Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTN, LP, TC) luôn được Đảng ủy, Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (HĐTV EVN) quan tâm, chỉ đạo sát sao. Nội dung này được thể hiện rõ trong việc xây dựng và triển khai các chương trình PCTN, LP, TC năm 2025 và giai đoạn 2026–2030. Trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ quản lý của các cấp có thẩm quyền và tình hình thực tiễn của EVN, công tác PCTN, LP, TC tập trung vào việc kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập trong cơ chế, quy chế quản lý; tăng cường phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước, quy chế, quy định quản lý nội bộ của EVN và các đơn vị; đồng thời phát huy các nhân tố tích cực, góp phần nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành. Trọng tâm công tác được chuyển mạnh từ kiểm tra, thanh tra để xử lý sang “giám sát thường xuyên nhằm phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở”, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của EVN.

Bên cạnh đó, việc thực hành tiết kiệm, triệt để cắt giảm chi phí trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh của EVN được triển khai đồng bộ, thống nhất từ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên. Các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp tiết kiệm được quy định cụ thể trong Chương trình tổng thể thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2021–2025 của EVN và được cụ thể hóa trong các chương trình, kế hoạch triển khai hằng năm.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PCTN, LP, TC

1. Việc kiện toàn Ban chỉ đạo PCTN, LP, TC

Đảng ủy EVN đã ban hành Quyết định số 797-QĐ/ĐU ngày 30/12/2024 về việc thành lập Ban Chỉ đạo PCTN, LP, TC Đảng ủy EVN; Ban hành Quy chế số 15-QC/BCĐ ngày 10/01/2025 Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo trong đó có quy định nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từng thành viên cũng như chế độ làm việc và quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo. Ban Chỉ đạo Đảng ủy cũng đã chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc thành lập Ban Chỉ đạo, ban hành Quy chế làm việc.

Trong năm 2025, Ban Chỉ đạo đã quán triệt đầy đủ các nhiệm vụ trọng tâm và trách nhiệm của cấp ủy, đơn vị trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTN, LP, TC); đồng thời chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc kiện toàn tổ chức, thành lập Ban Chỉ đạo, ban hành Quy chế làm việc và Chương trình công tác PCTN, LP, TC năm 2025 để tổ chức triển khai thực hiện thống nhất, hiệu quả. Trên cơ sở đó, Ban Chỉ đạo xác định 10 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện, gồm: (i) Kiện toàn tổ chức, nâng cao vai trò chỉ đạo PCTN, LP, TC; (ii) Hoàn thiện quy chế, kiểm soát quyền lực; (iii) Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục liêm chính; (iv) Đề cao vai trò người đứng đầu, phòng ngừa vi phạm; (v) Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính; (vi) Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra; (vii) Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; (viii) Giải quyết đơn thư, phát huy dân chủ cơ sở; (ix) Xây dựng văn hóa liêm chính, nêu gương; (x) Thực hiện kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập.

2. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo đơn vị đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTN, LP, TC)

- Đảng ủy, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Tập đoàn (UBKT) đã ban hành và tổ chức triển khai thực hiện Chương trình kiểm tra, giám sát của Ban Chấp hành Đảng bộ Tập đoàn năm 2025, Chương trình kiểm tra, giám sát của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Tập đoàn năm 2025 [1]; Nghị quyết về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Đảng bộ Tập đoàn, Nghị quyết về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu thầu trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Nghị quyết về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giám sát chuyên môn, nghiệp vụ [2]; triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại buổi làm việc với Ban Nội chính Trung ương [3]; Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật [4]; các cấp ủy trực thuộc cũng đã ban hành các Chương trình hành động để triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kế hoạch của Đảng ủy Tập đoàn phù hợp với thực tiễn công tác của tổ chức đảng, đơn vị.

- HĐTV EVN đã ban hành Nghị quyết số 76/NQ-HĐTV ngày 07/3/2025 làm cơ sở ban hành Quyết định số 75/QĐ-HĐTV ngày 13/3/2025 về Chương trình tổng thể công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2025; đồng thời ban hành Nghị quyết số 363/NQ-HĐTV ngày 17/12/2025 làm cơ sở ban hành Quyết định số 340/QĐ-HĐTV ngày 18/12/2025 về Chương trình tổng thể công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực giai đoạn 2026–2030 của EVN.

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra vào các lĩnh vực công tác nhạy cảm, có nguy cơ xảy ra tham nhũng, tiêu cực; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai thường xuyên, nhằm kịp thời phát hiện các tồn tại, thiếu sót sai phạm và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời; tăng cường công tác xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, có phạm vi áp dụng trực tiếp đối với các đơn vị thuộc Tập đoàn.

- Chỉ đạo các đơn vị rà soát, báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra, kiểm toán, giám sát để báo cáo các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:  Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công Thương, Thanh tra Chính phủ; Thanh tra Bộ Tài chính; Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

3. Công tác xây dựng và hoàn thiện các thể chế

- Thực hiện Nghị quyết số 428/NQ-HĐTV ngày 16/12/2024, Tổng giám đốc EVN đã chỉ đạo xây dựng Quy chế phân cấp trong EVN trình HĐTV tại Tờ trình số 284/TTr-EVN ngày 12/01/2025 theo định hướng tăng cường phân cấp, phân quyền cho các cấp đơn vị. Quy chế phân cấp được ban hành kèm theo Quyết định số 99/QĐ-HĐTV ngày 25/4/2025 của HĐTV và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 01/QĐ-HĐTV ngày 01/01/2026 của HĐTV.

  - Năm 2025, EVN đã phối hợp với Tư vấn luật đã rà soát tổng thể 1527 VBQPPL, đánh giá tác động của 232 VBQPPL có liên quan đến hoạt động của EVN, đơn vị; ban hành mới 16 QCQLNB, đã trình HĐTV 02 QCQLNB, đang dự thảo 02 QCQLNB trong lĩnh vực an toàn. EVN đã ban hành Quyết định số 656/QĐ-EVN, ngày 23/5/2025 công bố Danh mục Quy chế quản lý nội bộ do Tập đoàn Điện lực Việt Nam ban hành hết hiệu lực thi hành với 18 QCQLNB và 01 quy định khác (đợt 1), Quyết định số 939/QĐ-EVN ngày 24/6/2025 với 12 QCQLNB và 02 quy định khác (đợt 2), Quyết định số 1114/QĐ-EVN ngày 29/7/2025 với 01 QCQLNB và 01 quy định khác (đợt 3), Quyết định số 1463/QĐ-EVN ngày 16/10/2025 công bố hết hiệu lực thi hành với 02 quy định và 01 hướng dẫn (đợt 4).

- EVN đã phê duyệt và ban hành Chương trình cải cách hành chính của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam giai đoạn 2021–2025 (ban hành kèm theo Quyết định số 259/QĐ-EVN ngày 20/02/2021) và Kế hoạch cải cách hành chính của Cơ quan EVN năm 2025 (ban hành kèm theo Quyết định số 204/QĐ-EVN ngày 07/02/2025).

EVN đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn; đồng thời thường xuyên cập nhật, công khai đầy đủ trên trang thông tin điện tử của EVN và ban hành văn bản phổ biến, hướng dẫn đến các ban, đơn vị trực thuộc để tổ chức triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, EVN chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng, soạn thảo và ban hành các quy chế quản lý nội bộ, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, hạn chế chồng chéo, mâu thuẫn, trái quy định pháp luật; định kỳ rà soát, công bố các quy chế quản lý nội bộ hết hiệu lực thi hành.

- Liên quan đến việc rà soát các khó khăn, vướng mắc của các văn bản quy phạm pháp luật, EVN đã có các văn bản báo cáo các cơ quan có thẩm quyền về các khó khăn, vướng mắc bất cập và đề xuất, kiến nghị các nội dung sửa đổi, bổ sung; giải pháp cụ thể; mức độ cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung để các cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ các bất cập, vướng mắc trong hệ thống VBQPPL.

4. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN, LP, TC

- Đảng ủy EVN duy trì thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và văn bản pháp luật, hướng dẫn về công tác PCTN, LP, TC đến toàn thể đảng viên, CBCNV trong EVN; gắn việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn của EVN về công tác PCTN, tiêu cực thông qua các buổi giao ban truyền hình, các cuộc họp, hội nghị, sinh hoạt định kỳ; cập nhật thông tin đưa lên trang web EVN, các đơn vị, sao gửi tài liệu, phổ biến nội dung các văn bản liên quan đến từng tổ chức đảng, đơn vị.

- Tập trung lãnh đạo tổ chức quán triệt sâu sắc nội dung Bài phát biểu kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đồng thời chỉ đạo triển khai thực hiện trong Đảng bộ Tập đoàn.

- Tiếp tục triển khai nội dung các chủ trương, chính sách của Đảng và Nghị quyết, Kết luận của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về PCTN, tiêu cực, lãng phí trọng tâm là: Luật PCTN năm 2018; Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN; Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng…; triển khai thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của BCH Trung ương, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và Chỉ thị của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;

- Triển khai và thực hiện kịp thời các văn bản chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN như Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực, PCTN, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; Quy định  số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực, PCTN, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Quy định 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và PCTN, tiêu cực trong công tác cán bộ... và các văn bản chỉ đạo của Ban Nội chính Trung ương, Thanh tra Chính phủ về công tác PCTN, LP, TC đến toàn thể đảng viên, CBCNV, đặc biệt là các cán bộ quản lý, lãnh đạo tại cấp ủy, đơn vị. Đảng ủy Tập đoàn đã ban hành các văn bản triển khai Quy định số 287-QĐ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu  cực được phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Hướng dẫn số 63-HD/BCĐTW về một số nội dung trọng tâm trong công tác phòng, chống lãng phí [5].

5. Kết quả thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí

- Năm 2025, UBKT Đảng ủy đã triển khai giám sát chuyên đề đối với 01 tổ chức đảng trực thuộc (Đảng ủy EVNGENCO1); Đảng ủy đã triển khai kiểm tra chuyên đề đối với 01 tổ chức đảng trực thuộc (Đảng ủy EVNGENCO2), có nội dung về công tác PCTN, tiêu cực; tiết kiệm, chống lãng phí và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

- Ban KTTT đã tham mưu xây dựng và trình Tổng giám đốc ban hành Kế hoạch công tác Kiểm tra, thanh tra; Xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Công tác Bảo vệ và Quốc phòng năm 2025 của EVN tại Kế hoạch số 7291/KH-EVN ngày 17/12/2024 và tổ chức thực hiện cơ bản hoàn thành theo Kế hoạch, cụ thể: Đã tổ chức kiểm tra tại Tổng công ty Điện lực miền Trung, Tổng công ty Phát điện 1 [6], Tổng công ty Điện lực miền Nam [7] và một số đơn vị trực thuộc (Ban QLDA Điện 2 đang thực hiện, dự kiến hoàn thành trong tháng 1/2026). Sau kiểm tra, Ban KTTT đã tham mưu cho Lãnh đạo Tập đoàn có văn bản chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế đã được Đoàn kiểm tra chỉ ra.

- Đảng ủy đã chỉ đạo Tập đoàn duy trì thường xuyên việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Các đơn vị trong toàn Tập đoàn đã thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của mỗi đơn vị cho CBCNV và khách hàng biết và thực hiện.

- Việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản và thu nhập: thực hiện Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức đơn vị, EVN đã triển khai đến các đơn vị trực thuộc theo Văn bản số 7562/EVN-TCNS, ngày 27/11/2025 về việc thực hiện công tác kê khai và công khai tài sản, thu nhập năm 2025.

- Đã thực hiện kiểm tra/rà soát việc thực hiện quy tắc ứng xử đối với người có chức vụ quyền hạn và rà soát xung đột lợi ích theo quy định của Luật PCTN. Rà soát việc thực hiện Quy định 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

- Việc xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức: Thực hiện niêm yết quy tắc ứng xử của cán bộ công chức tại nơi làm việc; Thời gian qua, không có phản ánh về việc cán bộ thuộc Cơ quan Tập đoàn và đơn vị thành viên có thái độ xử sự không đúng mực với các cơ quan, đơn vị, công dân đến liên hệ công tác.

- Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách: trong năm, Đảng ủy Tập đoàn đã phối hợp và xem xét, thi hành kỷ luật theo thẩm quyền các trường hợp cán bộ, đảng viên phải xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực.

- Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ trong quản lý: EVN đã ban hành Quyết định số 204/QĐ-EVN, ngày 07/02/2025 phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính của Cơ quan EVN. Các đơn vị cũng đã xây dựng kế hoạch CCHC, triển khai thực hiện kế hoạch đề ra và báo cáo EVN tình hình thực hiện theo yêu cầu. Công tác CCHC trong EVN bao gồm công tác hoàn thiện thể chế, quản trị, tái cơ cấu doanh nghiệp, công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực; công tác chuyển đổi số (CĐS); công tác cải cách thủ tục hành chính; công tác dịch vụ khách hàng và công tác thực hành tiết kiệm, tiết giảm chi phí quản lý. Đối với từng thời điểm, EVN tập trung nguồn lực đẩy mạnh thực hiện từng công tác, trong đó đưa ra các mốc thời hạn, đơn vị chủ trì để hoàn thành 20 nội dung công việc chính.

II. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PCTN, LP, TC

1. Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể trong Tập đoàn về PCTN, LP, TC

- Tập đoàn và các Đơn vị đẩy mạnh công tác quán triệt, phổ biến, tuyên truyền Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành; các văn bản của Trung ương, các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về PCTN, LP, TC.

- Đổi mới phương thức phổ biến, tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; lựa chọn hình thức, đối tượng tuyên truyền đảm bảo phù hợp, thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, lãng phí.

- Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong Tập đoàn như Công đoàn, Đoàn Thanh niên trong công tác tuyên truyền, giáo dục về PCTN, LP, TC nhằm nâng cao ý thức của đoàn viên, người lao động về đấu tranh PCTN, LP, TC.

2. Hoàn thiện hệ thống văn bản nội bộ điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn

- Tổ chức thực hiện Kế hoạch chi tiết triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thi hành pháp luật và hoàn thiện Hệ thống QCQLNB tại EVN và các đơn vị thành viên được EVN ban hành tại Văn bản số 6386/KH-EVN ngày 06/10/2025.

- Thường xuyên rà soát các chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về PCTN, LP, TC đã được ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hoá, cụ thể hoá kịp thời thành quy chế, quy định nội bộ trong Tập đoàn.

- Theo dõi, đánh giá hiệu quả của quy chế, quy định nội bộ trong Tập đoàn sau ban hành để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kịp thời phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, để hoàn thiện, đồng bộ hệ thống quy định nội bộ của Tập đoàn.

- Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách hành chính toàn diện phù hợp với mô hình tổ chức của Tập đoàn sau khi tiến hành sáp nhập.

3. Kiểm soát quyền lực và PCTN, tiêu cực trong công tác cán bộ

- Thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và PCTN, tiêu cực trong công tác cán bộ (từ quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển);

- Tiếp tục thực hiện chế độ luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác định kỳ, đặc biệt đối với các vị trí nhạy cảm theo quy định;

- Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, đối chiếu việc kê khai, công khai tài sản thu nhập;

- Rà soát việc thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn; kiểm soát xung đột lợi ích theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng.

4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chuyên môn nghiệp vụ

4.1. Quản lý chất lượng, tiến độ công trình đầu tư xây dựng, sửa chữa lớn (ĐTXD, SCL):

- Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát quá trình thi công xây dựng công trình, đảm bảo công trình ĐTXD, SCL hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng.

- Theo dõi, kiểm tra và đánh giá hiệu quả đầu tư dự án, hiệu quả của các công trình SCL trước, trong và sau khi hoàn thành theo quy định.

- Rà soát, làm rõ nguyên nhân và có phương án xử lý đối với các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền đối với những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý. 

4.2. Công tác đấu thầu:

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác đấu thầu; phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo bộ phận chuyên môn tập trung triển khai hiệu quả công tác lựa chọn nhà thầu phù hợp với quy định của pháp luật và quy định về đấu thầu của EVN.

- Nâng cao chất lượng công tác lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, thẩm định các nội dung quá trình lựa chọn nhà thầu đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả kinh tế trong đấu thầu.

- Thực hiện lựa chọn nhà thầu qua mạng đối với các gói thầu mà Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia có hỗ trợ; tăng cường kiểm soát thời gian thực hiện các bước trong quá trình lựa chọn nhà thầu, ký kết, thực hiện và quản lý hợp đồng đảm bảo đáp ứng tiến độ yêu cầu của dự án, gói thầu.

- Xây dựng đội ngũ làm công tác đấu thầu có năng lực chuyên môn cao; tăng cường và đa dạng hóa công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về đấu thầu lựa chọn nhà thầu; quan tâm, tạo điều kiện cho các cá nhân thuộc tổ chuyên gia, tổ thẩm định tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực, nghiệp vụ thực hiện công tác đấu thầu;

- Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác đấu thầu. Xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong công tác đấu thầu một cách chủ động, hiệu quả.

4.3. Đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, lãng phí, tiêu cực trong công tác giám sát chuyên môn, nghiệp vụ:

- Xây dựng và triển khai các giải pháp cụ thể phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong công tác giám sát chuyên môn nghiệp vụ trong các lĩnh vực công tác khác, triển khai đầy đủ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 313-NQ/ĐU ngày 11/7/2025 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giám sát chuyên môn nghiệp vụ;

- Nhận diện rõ các biểu hiện, hành vi tiêu cực, "lợi ích nhóm" để có biện pháp ngăn chặn từ sớm, từ xa; thực hiện nghiêm túc việc tiếp nhận, xác minh, làm rõ các thông tin phản ánh, kiến nghị, tố cáo về hành vi tiêu cực trong hoạt động đấu thầu, đầu tư xây dựng; xử lý nghiêm đơn vị, cá nhân liên quan thuộc phạm vi quản lý khi phát hiện hành vi tiêu cực, vi phạm quy định pháp luật và quy định của EVN về đấu thầu.

5. Công tác sản xuất kinh doanh.

5.1. Trong công tác sản xuất, kinh doanh bán điện: tăng cường các giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý để phấn đấu giảm tỷ lệ tổn thất điện năng, giảm thời gian mất điện bình quân của một khách hàng trong năm.

5.2. Trong việc tổ chức hội nghị: giảm tần suất tổ chức các hội nghị; tăng cường tổ chức họp trực tuyến, bố trí hợp lý thời gian tổ chức các hội nghị có cùng thành phần, rút ngắn thời gian hội nghị, hạn chế tổ chức chiêu đãi, tặng quà khi tổ chức hội nghị, không kết hợp tổ chức hội nghị với tham quan, nghỉ mát.

5.3. Tổ chức học tập tại nước ngoài: các đoàn đi khảo sát, học tập ở nước ngoài phải có nội dung thiết thực, không trùng lắp, đúng thành phần, không kết hợp khảo sát học tập ở nước ngoài với giải quyết chính sách, kết hợp tham quan, du lịch.

5.4. Mua sắm trang thiết bị làm việc: không mua sắm trang thiết bị làm việc đắt tiền, lãng phí; tuân thủ các quy định pháp luật đấu thầu, quy chế đấu thầu của EVN về mua sắm tài sản, hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh; thực hiện đúng định mức sử dụng xe ô tô, điện thoại và trang thiết bị làm việc theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và Tập đoàn.

6. Chuyển đổi số

- Ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa quy trình quản trị, điều hành và các giao dịch tài chính (thanh toán không dùng tiền mặt, chi trả qua tài khoản) nhằm tăng cường minh bạch và giảm thiểu sự can thiệp của con người.

- Thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan, đơn vị, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, mua sắm, đấu thầu theo Luật PCTN. Số hóa hệ thống văn bản nội bộ của Tập đoàn và công khai trên Cổng/Trang thông tin điện tử của Tập đoàn.

7. Công tác kiểm tra và xử lý vi phạm

- Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra thường xuyên, định kỳ, đột xuất của các cấp đối với việc tổ chức thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các văn bản chỉ đạo của Tập đoàn về công tác PCTN, LP, TC.

- Tăng cường kiểm tra những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, rủi ro, đặc biệt trong công tác đấu thầu phải lưu ý các gói thầu có giá trị lớn, tính chất phức tạp, dư luận quan tâm, có ít nhà thầu tham gia hoặc tỷ lệ tiết kiệm thấp...

- Kiên quyết xử lý nghiêm, kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Luật PCTN, có hành vi tham nhũng, tiêu cực theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước. Kịp thời công khai thông tin về các trường hợp xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả, chất lượng Kế hoạch Kiểm tra, thanh tra; Xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác Bảo vệ và Quốc phòng hàng năm;

- Kịp thời xử lý, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của CBCNV và công dân, qua đó có các biện pháp chấn chỉnh việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết, chính sách pháp luật, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại đơn vị; đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn các hiện tượng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;

- Kịp thời kiểm tra, xác minh đối với các trường hợp cán bộ có tố cáo, dư luận phản ánh về không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập; Kiểm tra trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị trong việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật, quy chế, quy định của Tập đoàn về công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Thực hiện nghiêm chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng theo quy định của Đảng, của Luật PCTN và Nghị định số 59/2019/NĐ-CP. Định kỳ các đơn vị có trách nhiệm kiểm điểm, đánh giá, báo cáo Tập đoàn kết quả thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng, tiêu cực.

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU TRỌNG TÂM TRONG CÔNG TÁC PCTN, LP, TC

Trên cơ sở đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian qua; quán triệt các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và yêu cầu nhiệm vụ quản lý, điều hành của Tập đoàn trong giai đoạn tới, Đảng ủy EVN xác định các quan điểm, mục tiêu trọng tâm cần tập trung thực hiện như sau:

1. Công tác PCTN, LP, TC là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, lâu dài, được Đảng ủy và HĐTV EVN trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, gắn chặt với nhiệm vụ quản lý, điều hành và phát triển bền vững Tập đoàn.

2. Phòng ngừa là chính, phát hiện sớm, xử lý nghiêm, trong đó chuyển mạnh trọng tâm từ kiểm tra, thanh tra để xử lý sang giám sát thường xuyên nhằm phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở, hạn chế phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

3. Kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm người đứng đầu là giải pháp then chốt; mọi hoạt động lãnh đạo, quản lý phải được đặt trong khuôn khổ thể chế, quy chế rõ ràng, minh bạch, có phân công, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát.

4. Hoàn thiện thể chế, quy chế nội bộ và cải cách hành chính là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, khắc phục sơ hở trong cơ chế quản lý, phòng ngừa thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

5. Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro cao như đầu tư xây dựng, đấu thầu, tài chính, mua sắm, công tác cán bộ và quản lý tài sản công.

6. Đẩy mạnh công khai, minh bạch, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh; coi tiết kiệm là yêu cầu bắt buộc gắn với hiệu quả và trách nhiệm quản lý.

7. Tuyên truyền, giáo dục liêm chính phải được thực hiện thường xuyên, sâu rộng, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng văn hóa liêm chính, nêu gương trong toàn EVN.

8. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là giải pháp quan trọng để tăng minh bạch, giảm sự can thiệp chủ quan của con người, nâng cao hiệu quả giám sát và quản trị.

9. Xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời coi trọng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ và giám sát của người lao động.

10. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong EVN, trong đó vai trò của các tổ chức đảng, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và người lao động là yếu tố quyết định hiệu quả công tác PCTN, LP, TC.

----------------------------------------------------------

[1] Chương trình số 38-CTr/ĐU ngày 31/12/2024; Chương trình số 497-CTr/KTĐU, ngày 08/01/2025.

[2] Nghị quyết số 279-NQ/ĐU, ngày 28/02/2025; Nghị quyết số 300-NQ/ĐU, ngày 15/5/2025; Nghị quyết số 313-NQ/ĐU, ngày 11/7/2025.

[3] Công văn 2549-CV/ĐU, ngày 18/7/2025.

[4] Kế hoạch số 78-KH/ĐU, ngày 25/7/2025.

[5] Công văn 2485-CV/ĐU, ngày 13/6/2025; Công văn 2487-CV/ĐU, ngày 13/6/2025.

[6] Tại EVNCPC và EVNGENCO1: kiểm tra về công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc chấp hành các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và việc thực hiện các Chương trình, Kế hoạch thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của EVN và của cấp có thẩm quyền.

[7] Tại EVNSPC: kiểm tra về công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo; và công tác quốc phòng, quân sự; công tác phòng, chống khủng bố.

Tải tài liệu chuyên đề tại đây.

PHẦN I. SƠ BỘ KẾT QUẢ SXKD-TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2021-2025

Giai đoạn 2021–2025 tình hình thế giới biến động nhanh và phức tạp với nhiều diễn biến khó lường: Đại dịch Covid - 19 bùng phát và kéo dài đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều khu vực chịu tác động nặng nề từ chiến tranh, xung đột vũ trang và bạo loạn, làm gia tăng bất ổn địa chính trị và rủi ro an ninh năng lượng. Đặc biệt, giai đoạn 2022-2023 giá nhiên liệu đầu vào tăng rất mạnh so với giai đoạn 2020-2021 như Giá than nhập NewC năm 2022 tăng 3,65 lần, năm 2023 tăng 1,73 lần, Dầu thô Brent năm 2022 tăng 1,8 lần và năm 2023 tăng 1,47 lần. Than pha trộn do TKV và TCT Đông Bắc cung cấp tăng khoảng 1,35 lần đến 1,46 lần (tùy từng loại than) so với năm 2021. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chi phí mua điện của EVN cũng như kết quả SXKD EVN giai đoạn 2022-2023.

Một số kết quả SXKD tài chính hợp nhất toàn Tập đoàn giai đoạn 2021-2025 như sau:

Giai đoạn 2021-2025, doanh thu và thu nhập khác của Tập đoàn có xu hướng tăng trưởng liên tục, phản ánh nhu cầu điện năng phục hồi và gia tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, hiệu quả SXKD chịu ảnh hưởng đáng kể bởi giá nhiên liệu đầu vào tăng đột biến, huy động thêm các nguồn điện mới đắt tiền để đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng cao và giá bán lẻ điện không điều chỉnh hoặc được điều chỉnh chưa kịp thời, chưa phản ánh đầy đủ biến động chi phí đầu vào, dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ trong các năm 2022–2023.

Từ năm 2024, tình hình SXKD của Tập đoàn có dấu hiệu cải thiện khi kết quả kinh doanh chuyển biến tích cực, Công ty mẹ và hợp nhất toàn Tập đoàn bắt đầu có lãi, làm giảm lỗ luỹ kế. Ước tính đến hết năm 2025, lỗ luỹ kế Công ty mẹ - EVN còn khoảng -12.976 tỷ đồng. Việc điều chỉnh giá bán điện, cùng với xu hướng hạ nhiệt của giá nhiên liệu và các biện pháp kiểm soát chi phí trong nội bộ EVN đã góp phần cải thiện hiệu quả SXKD EVN.

PHẦN II. NHẬN DIỆN CÁC THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG MỤC TIÊU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SXKD, ĐẢM BẢO CÂN BẰNG TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2026-2030

Giai đoạn 2026–2030, EVN đứng trước cả thuận lợi và thách thức đan xen trong mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh và đảm bảo cân bằng tài chính. Nhu cầu điện tiếp tục tăng và cơ chế giá điện từng bước hoàn thiện tạo điều kiện cải thiện hiệu quả hoạt động SXKD; tuy nhiên, áp lực chi phí, nhu cầu đầu tư lớn và rủi ro tài chính vẫn là những thách thức đáng kể. 

I. THUẬN LỢI 

1. Sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ đối với kinh tế nhà nước

Đảng và Chính phủ luôn rất quan tâm đến kinh tế nhà nước, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước, xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

Gần đây nhất, ngày 06/01/2026 Bộ Chính Trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW năm 2026 về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó xác định rõ Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: “Về doanh nghiệp nhà nước: Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế”.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật số 68/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025, có hiệu lực từ 01/8/2025, thay thế Luật 69/2014), Chính phủ sẽ quy định cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước và doanh nghiệp trong một số lĩnh vực đặc thù. Trên cơ sở đó, EVN đã xây dựng và báo cáo cấp có thẩm quyền thông qua dự thảo Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (gần đây nhất là văn bản số 5708/EVN-TCKT ngày 04/09/2025).

2. Hệ thống chính sách, quy định pháp luật, quy trình quản lý nội bộ ngày càng hoàn thiện

Hệ thống pháp luật của Việt Nam trong những năm gần đây đã từng bước được hoàn thiện theo hướng minh bạch, đồng bộ và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế; liên tục được sửa đổi, bổ sung nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Điều này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xây dựng phương án SXKD - tài chính, lập các kế hoạch trung và dài hạn cho các dự án nguồn và lưới điện.

Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách ưu đãi đối với các dự án điện, đặc biệt là điện năng lượng tái tạo, điện khí LNG, đầu tư lưới điện tại vùng sâu, vùng xa. Đây là cơ sở quan trọng để ngành điện tận dụng các ưu đãi hợp pháp, giảm chi phí đầu tư, cải thiện hiệu quả tài chính của dự án.

Đối với công tác quản trị SXKD trong EVN, Hội đồng thành viên EVN đã ban hành các quy chế phân cấp, các Quy định về xây dựng định mức, quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, giá điện và giá dịch vụ về điện trong EVN, Hội đồng thành viên có thẩm quyền ban hành bộ định mức chi phí của các TCTĐL.

Thực hiện các Quy định của Nhà nước về công tác quản trị chi phí, theo chỉ đạo của Hội đồng thành viên công tác xây dựng định mức chi phí được EVN chú trọng và triển khai tại Công ty mẹ-EVN và các đơn vị thành viên trong Tập đoàn. Với bộ định mức chi phí được ban hành trong các năm vừa qua đã góp phần tích cực vào công tác quản trị chi phí, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, làm cơ sở các đơn vị thực hiện tiết kiệm, tiết giảm chi phí để góp phần phấn đấu kết quả hoạt động SXKD. 

3. Công tác Chuyển đổi số trong quản lý vận hành được thúc đẩy mạnh mẽ

Với vai trò của doanh nghiệp Nhà nước đầu tàu, từ năm 2019, EVN đã sớm triển khai chuyển đổi số toàn diện trong các lĩnh vực, nhằm thiết thực nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn, thiết thực đem lại lợi ích cho khách hàng và hơn hết là góp phần thúc đẩy công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, 5 lĩnh vực trọng tâm được EVN thực hiện chuyển đổi số là: Quản trị nội bộ, đầu tư xây dựng, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khách hàng, viễn thông và công nghệ thông tin. Giai đoạn 2019-2022, EVN liên tục đạt giải thưởng Doanh nghiệp Chuyển đổi số xuất sắc.

Việc chuyển đổi số của EVN trong thời gian tới sẽ được triển khai bám sát theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Cơ chế giá bán lẻ điện hướng tới mục tiêu đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp

Cơ chế giá bán lẻ điện đang dần được hoàn thiện theo hướng đảm bảo doanh nghiệp đủ bù đắp chi phí và có lợi nhuận, đồng thời tăng tính tự chủ của doanh nghiệp trong quá trình điều chỉnh giá bán lẻ điện.

Luật Điện lực số 61/2024/QH15 cũng quy định “Giá bán lẻ điện được phản ánh và điều chỉnh kịp thời theo biến động thực tế của thông số đầu vào, bù đắp chi phí hợp lý, hợp lệ với lợi nhuận hợp lý để bảo toàn, phát triển vốn kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và cấp độ thị trường điện cạnh tranh”.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2025/NĐ-CP ngày 28/03/2025 quy định về cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân. Theo đó, giá bán lẻ điện bình quân được xem xét điều chỉnh trên cơ sở cập nhật chi phí khâu phát điện, chi phí mua điện từ các nhà máy điện cung cấp dịch vụ phụ trợ theo thông số đầu vào cơ bản trong khâu phát điện và các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá điện. Khi giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm từ 1% trở lên hoặc tăng từ 2% trở lên so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành thì giá điện được phép điều chỉnh. Ngoài ra, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu đưa vào phương án giá bán lẻ điện cũng được xác định rõ ràng, không thấp hơn bình quân theo ngày lãi suất liên ngân hàng thời hạn 06 tháng đăng tải trên cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam của năm N-2.

Ngày 26/04/2025, Bộ Công Thương cũng đã ban hành Thông tư số 22/2025/TT-BCT quy định tính toán giá bán lẻ điện bình quân nhằm hướng dẫn cụ thể các bước tính toán giá bán lẻ điện bình quân theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 72/2025/NĐ-CP.

5. Nhu cầu điện năng tiếp tục tăng trưởng ổn định

Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" (trên 10%) vào giai đoạn 2026-2030, đặc biệt là trong các năm tới, để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển 100 năm, tập trung vào chuyển đổi số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo, và phát triển các ngành công nghệ cao, coi đây là nhiệm vụ chiến lược có nền tảng nhưng đầy thách thức. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện thể chế, phát huy động lực tăng trưởng mới, đầu tư hạ tầng, thu hút FDI chất lượng cao và giữ vững ổn định vĩ mô.

Theo đó, căn cứ theo mối quan hệ tương đối theo hệ số đàn hồi giữa điện/GDP của Việt Nam quá khứ và dự báo cho tương lai thì nhu cầu điện cũng sẽ tiếp tục tăng cao trong giai đoạn sắp tới, giúp EVN duy trì quy mô doanh thu lớn, ổn định và tăng trưởng hàng năm.

II. KHÓ KHĂN

1. Chính sách thuế thay đổi nhanh, nhiều hướng dẫn chuyên ngành; phức tạp trong xác định chi phí được trừ, công tác hoàn thuế

Mặc dù hệ thống pháp luật thuế ngày càng hoàn thiện, song trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng nhiều văn bản hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung trong thời gian ngắn. Đối với các dự án điện có vòng đời dài, việc áp dụng chính sách thuế tại các thời điểm khác nhau có thể phát sinh vướng mắc, rủi ro truy thu, điều chỉnh chi phí.

Hoạt động đầu tư xây dựng các công trình điện, đặc biệt là các dự án EPC, BOT, liên danh, sử dụng nhà thầu nước ngoài, làm phát sinh nhiều vấn đề về thuế nhà thầu, phân bổ chi phí, xác định nghĩa vụ thuế. Nếu không được quản lý chặt chẽ ngay từ đầu, các vướng mắc này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính của dự án, đến công tác hoàn thuế của dự án.

Bên cạnh đó, cơ quan thuế ngày càng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo phương pháp quản lý rủi ro. Ngành điện, với quy mô lớn và nhiều giao dịch phức tạp, thường là đối tượng được cơ quan thuế quan tâm. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều nguồn lực cho công tác giải trình, hoàn thiện hồ sơ thuế.

2. Công tác chuyển nhượng vốn kéo dài, gặp nhiều vướng mắc

Trong suốt giai đoạn từ năm 2021 đến nay (khoảng 05 năm), EVN đã quyết liệt chỉ đạo các đơn vị cấp II thực hiện chuyển nhượng vốn tại các CTCP để xử lý sở hữu chéo theo quy định tại khoản 3 Điều 195 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Mặc dù các đơn vị đã rất nỗ lực thực hiện chuyển nhượng vốn nhiều lần, bằng nhiều phương thức khác nhau (đấu giá công khai; chào bán cạnh tranh và thỏa thuận) nhưng do những khó khăn, vướng mắc nên vẫn chưa thành công (như: Điều kiện thị trường không thuận lợi; Giá khởi điểm cao hơn giá giao dịch trên thị trường chứng khoán nên không có nhà đầu tư tham gia mua cổ phần; Chứng thư thẩm định giá chỉ có hiệu lực trong vòng 6 tháng do vậy luôn phải được cập nhật lại do quá trình thực hiện các thủ tục chuyển nhượng vốn mất nhiều thời gian làm tăng chi phí thoái vốn;...). Hiện nay, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến các Bộ/ngành về Nghị định cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (Nghị định), trong đó có nội dung chuyển giao tài sản (bao gồm cả khoản đầu tư góp vốn). Dự kiến Nghị định này ban hành sẽ xử lý được tình trạng sở hữu chéo tại các Tổng công ty là các Công ty TNHH MTV 100% vốn của EVN theo nguyên tắc chuyển giao nguyên trạng theo giá trị sổ sách, không thực hiện đánh giá lại giá trị tài sản chuyển giao. Tuy nhiên, Nghị định chưa xử lý được tình trạng sở hữu chéo tại các CTCP có vốn góp của EVN. Do vậy, công tác thoái vốn sở hữu chéo của các CTCP có vốn góp của EVN (như EVNPECC2, EVNPECC3, EVNPECC4, EEMC) vẫn tiếp tục gặp khó khăn và có khả năng khó hoàn thành tiến độ thoái vốn theo kế hoạch.

3. Khoản lỗ luỹ kế đến cuối năm 2025 chưa được xử lý hết để lại áp lực lên giai đoạn 2026-2030

Đến cuối năm 2025 EVN vẫn còn lỗ luỹ kế do ảnh hưởng từ giai đoạn 2022-2023 nên tạo ra sức ép lớn đối với tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của EVN giai đoạn 2026-2030. Kết quả này trực tiếp làm suy giảm vốn chủ sở hữu, ảnh hưởng bất lợi đến các chỉ tiêu an toàn tài chính, khả năng tự cân đối vốn và uy tín tín dụng của Tập đoàn. EVN gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm, chi phí vay vốn có xu hướng tăng và phụ thuộc nhiều hơn vào các cơ chế hỗ trợ của Nhà nước. Bên cạnh đó, gánh nặng xử lý lỗ luỹ kế đến cuối năm 2025 đặt ra yêu cầu phải ưu tiên phục hồi tài chính, hạn chế dư địa dành cho tái đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ và chủ động ứng phó với biến động thị trường điện.

4. Các nguồn điện mới vào đều là nguồn điện đắt tiền, giá bán điện cao hơn nhiều so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành

Trong các năm tới, các nguồn điện vào thêm đa số là các nguồn điện có giá điện cao như điện LNG, điện gió ngoài khơi, thủy điện tích năng, điện hạt nhân... gây áp lực lớn lên chi phí mua điện của EVN. Ví dụ như NMTĐ tích năng có giá thành tới khách hàng khoảng 3.854,1 đồng/kWh, cao hơn giá bán lẻ điện bình quân là 1.650 đồng/kWh; điện gió ngoài khơi có giá thành tới khách hàng khoảng 3.479 – 4.375 đồng/kWh, cao hơn giá bán lẻ điện bình quân là 1.275 – 2.171 đồng/kWh; NMĐ hạt nhân có giá thành tới khách hàng khoảng 5.400 đồng /kWh, cao hơn giá bán lẻ điện bình quân là 3.196 đồng/kWh.

III. CƠ HỘI

1. Định hướng của Đảng và Chính phủ trong xây dựng tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, đủ năng lực cạnh tranh quốc tế

Trong giai đoạn sắp tới, EVN đứng trước nhiều cơ hội quan trọng xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc, nhất quán của Đảng và Chính phủ đối với phát triển kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã xác định mục tiêu xây dựng một số tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và năng lực cạnh tranh khu vực, quốc tế, qua đó tạo cơ sở chính trị quan trọng để EVN tiếp tục được ưu tiên phát triển và nâng cao vai trò dẫn dắt trong ngành điện. Việc đặt ra các mục tiêu phát triển của nền kinh tế, của doanh nghiệp nhà nước và Tập đoàn, vừa là mục tiêu, thách thức nhưng cũng là cơ hội để Tập đoàn lớn mạnh, vươn mình phát triển.

2. Định hướng về ban hành cơ chế tài chính đặc thù cho EVN

Trên cơ sở Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15, cùng với định hướng ban hành Nghị định về cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý tài chính riêng đối với EVN, mở ra cơ hội hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế tài chính đặc thù, góp phần nâng cao tính tự chủ, linh hoạt và an toàn tài chính của Tập đoàn. Hệ thống chính sách, pháp luật và các quy định quản lý nội bộ ngày càng được hoàn thiện theo hướng minh bạch, đồng bộ, giúp EVN chủ động hơn trong xây dựng phương án sản xuất - kinh doanh, kế hoạch tài chính trung và dài hạn, đồng thời tăng cường hiệu quả quản trị chi phí và sử dụng vốn.

3. EVN sớm nhận thức tầm quan trọng của công tác chuyển đổi số

Công tác chuyển đổi số được EVN triển khai sớm, đồng bộ và toàn diện trong các lĩnh vực quản trị, đầu tư xây dựng, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khách hàng tiếp tục là cơ hội quan trọng để nâng cao hiệu quả vận hành, giảm chi phí, tăng năng suất lao động và cải thiện chất lượng dịch vụ.

4. Cơ chế giá bán lẻ điện đang dần được hoàn thiện

Cơ chế giá bán lẻ điện đang từng bước được hoàn thiện theo quy định của Luật Điện lực số 61/2024/QH15, Nghị định số 72/2025/NĐ-CP và Thông tư số 22/2025/TT-BCT, tạo điều kiện để giá điện phản ánh kịp thời biến động chi phí đầu vào, bảo đảm bù đắp chi phí hợp lý và có lợi nhuận phù hợp, qua đó cải thiện khả năng cân đối tài chính của EVN.

IV. THÁCH THỨC

1. Biến động khó lường của giá nhiên liệu và tỷ giá ngoại tệ tiếp tục là yếu tố rủi ro lớn đối với hiệu quả SXKD

Hiện nay, khoảng 83% chi phí giá thành điện nằm ở khâu phát điện; nhiều loại nguồn điện (than, khí, LNG, NLTT) đều có giá thành tới khách hàng sử dụng điện cao hơn giá bán lẻ điện bình quân, chỉ có loại hình thủy điện có giá thấp hơn.

Trong đó, chi phí mua điện từ các đơn vị phát điện bị ảnh hưởng lớn bởi giá nhiên liệu than, dầu, khí và LNG. Trong bối cảnh tình hình biến động địa chính trị trên thế giới (chiến tranh Nga-Ukraina, Mỹ can thiệp vào Venezuela, chính sách thuế của Chính quyền Tổng thống Trump ….), thì biến động của giá nhiên liệu đầu vào là hết sức khó lường.

Bên cạnh đó, tỷ giá ngoại tệ cũng có xu hướng tăng qua các năm, ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí mua điện của các nhà máy điện có giá điện theo ngoại tệ như các dự án BOT, nhập khẩu điện, năng lượng tái tạo hoặc các nhà máy điện có giá nhiên liệu biến động theo ngoại tệ như nhiệt điện than nhập khẩu, khí và LNG.

2. Biến đổi khí hậu và thời tiết diễn ra ngày càng cực đoan

Biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng về tần suất và mức độ là thách thức lớn đối với EVN trong giai đoạn tới. Mưa bão, lũ lụt, nắng nóng kéo dài và hạn hán không chỉ làm gia tăng nguy cơ sự cố lưới điện, ảnh hưởng đến an toàn vận hành hệ thống, mà còn gây biến động mạnh về phụ tải và cơ cấu nguồn điện, đặc biệt đối với các nguồn thủy điện. Thời tiết cực đoan làm tăng chi phí sửa chữa, bảo dưỡng và đầu tư gia cố hạ tầng điện, đồng thời gây khó khăn trong công tác dự báo, điều độ và đảm bảo cung ứng điện liên tục, ổn định. Bên cạnh đó, các rủi ro khí hậu dài hạn còn có thể làm suy giảm hiệu quả đầu tư, gia tăng chi phí tài chính.

3. Áp lực về nhu cầu vốn đầu tư rất lớn cho phát triển nguồn điện và lưới điện

Nhu cầu điện năng tăng cao, cùng với yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và tích hợp tỷ trọng ngày càng lớn của năng lượng tái tạo, đòi hỏi EVN phải huy động khối lượng vốn đầu tư rất lớn trong khi năng lực tài chính và vốn chủ sở hữu còn hạn chế, hệ số nợ/vốn chủ sở hữu ở mức cao, làm gia tăng rủi ro tài chính và chi phí vốn.

4. Cơ chế giá bán lẻ điện vẫn chịu sự điều tiết chặt chẽ của Nhà nước

Cơ chế giá bán lẻ điện hiện hành đã có nhiều điểm tích cực về sự minh bạch, thuận tiện và tháo gỡ được nhiều vấn đề tồn tại như rút ngắn thời gian điều chỉnh, xác định rõ ràng thẩm quyền điều chỉnh của các đơn vị và quy định rõ ràng tỷ suất lợi nhuận giúp việc tính toán, cập nhật điều chỉnh giá bán lẻ điện kịp thời, linh hoạt hơn so với trước đây. Tuy nhiên, giá bán lẻ điện luôn là yếu tố có tác động trực tiếp và sâu rộng đến đời sống người dân cũng như công tác điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước, đồng thời tác động lan tỏa đến mặt bằng giá cả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, Nhà nước vẫn đang thực hiện vai trò điều tiết giá bán lẻ điện nhằm hài hòa mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời từng bước điều chỉnh giá điện theo tín hiệu thị trường để phản ánh chi phí hợp lý, khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả.

Vì thế, việc điều tiết của Nhà nước cũng có thể dẫn đến độ trễ nhất định trong việc điều chỉnh giá bán lẻ điện theo biến động chi phí đầu vào. Điều này có thể tiếp tục tạo áp lực lên biên lợi nhuận và dòng tiền của EVN trong trường hợp chi phí đầu vào tăng nhanh, ảnh hưởng đến khả năng bù đắp chi phí và tích lũy vốn cho đầu tư phát triển.

Ngoài ra, do khoản lỗ SXKD giai đoạn 2022-2023 chưa được thu hồi đầy đủ qua giá bán lẻ điện dẫn đến vốn đầu tư nhà nước vào EVN giảm, không bảo toàn và phát triển được vốn đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp. Do đó nếu thực hiện giảm giá bán lẻ điện bình quân theo Nghị định số 72/2025/NĐ-CP như đã nêu trên thì sẽ không thể bù đắp kịp thời phần vốn đầu tư nhà nước giảm trong các giai đoạn trước đây, điều này không đúng với tinh thần của Luật Điện lực 2024 và Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật số 68). EVN hiện nay đang phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành sửa đổi Nghị định số 72/2025/NĐ-CP theo hướng đưa các khoản chi phí phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất, cung ứng điện chưa được tính toán, bù đắp đầy đủ trong giá bán lẻ điện bình quân trước đây vào phương án tính toán giá bán lẻ điện hàng năm.

5. Thị trường điện cạnh tranh vốn có nhiều tồn tại đang từng bước hoàn thiện với nhiều bất định

Hiện nay, Bộ Công Thương đang chủ trì hoàn thiện Dự thảo Quyết định của Thủ tướng quy định lộ trình các cấp độ thị trường điện cạnh tranh thay thế cho Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, dự thảo của Bộ Công Thương có nhiều điểm thay đổi quan trọng không phù hợp với hiện trạng ngành điện và thực tế vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh hiện nay, chứa nhiều nội dung hiệu chỉnh ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng lực tài chính của EVN và tạo ra nhiều rủi ro làm tăng chi phí toàn hệ thống, tăng giá bán lẻ điện tới khách hàng sử dụng điện như:

- Đẩy mạnh sang ngay thị trường bán lẻ điện cạnh tranh quá sớm (dự kiến 2027) trong khi các tồn tại cố hữu trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh chưa được giải quyết triệt để, hệ thống điện chưa có nhiều dự phòng trong khi nhu cầu phụ tải Việt Nam đang tăng trưởng hàng năm ở mức cao, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, cơ chế pháp lý và giá điện chưa được cải cách triệt để để tiến tới thị trường điện bán lẻ.

- Phân tách hoàn toàn đơn vị truyền tải điện độc lập hoàn toàn với các đơn vị khác trong khiviệc này không mang lại lợi ích đáng kể nào cho ngành điện mà còn làm suy yếu đáng kể năng lực tài chính của cả EVN, giảm mạnh tài sản EVN, ảnh hưởng xấu tới các chỉ số tài chính của EVN, làm yếu năng lực tài chính EVN, gây khó khăn trong trong công tác huy động vốn, đầu tư khi chứng minh năng lực tài chính với các tổ chức tín dụng, đặc biệt trong giai đoạn EVN đang thực hiện đầu tư một loạt các dự án nguồn điện trọng điểm theo chỉ đạo của Chính phủ và các Bộ ngành, làm giảm vai trò chủ đạo của EVN trong hoạt động cung cấp điện cho khách hàng đã được Chính phủ giao phó. EVN cũng sẽ bị các đối tác trong nước và quốc tế đánh giá tiêu cực khi bị tách ra một đơn vị có tài sản lớn như EVNNPT trong khi bản thân EVNNPT đã là đơn vị hạch toán độc lập, không có lợi ích liên quan với các đơn vị tham gia thị trường điện hiện nay.

- Tách độc lập các nhà máy điện hạch toán phụ thuộc EVN trong bối cảnh các NMĐ này là nguồn doanh thu quan trọng của EVN để cân bằng chi phí mua điện với các nguồn điện giá cao khác mà EVN đang đại diện Chính phủ để mua điện (BOT, điện nhập khẩu, năng lượng tái tạo…), từ đó điều tiết chi phí phân phối, bán lẻ điện, bình ổn giá điện đầu ra ở mức thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ công ích, an sinh xã hội. Ngoài ra, các nhà máy điện này cũng là tài sản đảm bảo để EVN thực hiện vay vốn trong công tác đầu tư các nguồn điện mới trong Quy hoạch điện 8 theo chỉ đạo của Chính phủ (điện hạt nhân, thủy điện tích năng, các dự án lưới điện vùng sâu, vùng xa..), trong đó có dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 (Quốc hội đã có Nghị quyết số 189/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư xây dựng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, theo đó cho phép EVN đánh giá lại tài sản các NMTĐ đa mục tiêu để có nguồn đầu tư dự án NMĐHN Ninh Thuận 1).

6. Bước đầu triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp DPPA giữa các dự án NLTT và khách hàng lớn

Việc triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) giữa các khách hàng sử dụng điện lớn và các nhà máy điện năng lượng tái tạo đặt ra nhiều thách thức đối với EVN trong giai đoạn tới. Khi các khách hàng có sản lượng tiêu thụ lớn và phụ tải ổn định chuyển sang ký hợp đồng mua điện trực tiếp, EVN có nguy cơ suy giảm sản lượng điện thương phẩm và doanh thu, trong khi vẫn phải đảm nhận chi phí cố định lớn cho đầu tư, vận hành và duy trì hệ thống lưới điện truyền tải – phân phối.

Bên cạnh đó, sự dịch chuyển phụ tải ra khỏi hệ thống mua bán điện truyền thống có thể làm thay đổi cơ cấu khách hàng, gia tăng gánh nặng bù chéo giá điện và ảnh hưởng đến khả năng cân đối tài chính của EVN.

Cơ chế DPPA cũng làm tăng yêu cầu đối với EVN trong vai trò cung cấp dịch vụ lưới điện, đòi hỏi phải hoàn thiện mô hình kinh doanh, cơ chế giá dịch vụ truyền tải, phân phối - bán lẻ và năng lực quản trị rủi ro để thích ứng với thị trường điện cạnh tranh ngày càng sâu rộng.

Về phía các Tổng công ty Điện lực: Các đơn vị này cần phải nghiên cứu và có sự chuẩn bị khi dự kiến nhiều khách hàng sẽ tham gia cơ chế DPPA, giá điện hai thành phần, thực hiện biểu giá điện mới theo Quyết định số 05/2025/QĐ-TTg. Trước xu thế phát triển thị trường điện mở ra cho nhiều thành phần tham gia, các TCTĐL phải tích cực, nỗ lực hơn nữa và có giải pháp trong việc cải thiện chất lượng để cạnh tranh, không để mất thị phần bán lẻ điện.

7. Tồn tại, vướng mắc tại các dự án năng lượng tái tạo gió và mặt trời đã đưa vào vận hành giai đoạn 2018-2021 theo cơ chế giá cố định ưu đãi

Kết luận 1027/KL-TTCP ngày 28/4/2023 của Thanh tra Chính phủ chỉ ra trách nhiệm thuộc về chủ đầu tư, EVN và Công ty Mua bán điện về các sai phạm trong việc công nhận Ngày vận hành thương mại và thanh toán giá ưu đãi cho nhiều dự án điện gió, điện mặt trời, nhấn mạnh EVN có trách nhiệm giải quyết vướng mắc nhưng cũng đối mặt rủi ro tranh chấp quốc tế; yêu cầu EVN rà soát toàn bộ quá trình, đề xuất giải pháp xử lý và Bộ Công Thương kiến nghị Chính phủ xem xét chỉ đạo để tháo gỡ vướng mắc, tránh kiện tụng kéo dài.

PHẦN III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SXKD, ĐẢM BẢO CÂN BẰNG TÀI CHÍNH, BẢO TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN VỐN GIAI ĐOẠN 2026-2030

I. THỰC HIỆN TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ, TỐI THIỂU HÓA CHI PHÍ

Trong giai đoạn 2026–2030, EVN xác định công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong toàn Tập đoàn và các đơn vị thành viên, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm cân bằng tài chính, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp:

1. Triệt để tiết kiệm, cắt giảm chi phí, đặc biệt là chi phí thường xuyên, sửa chữa lớn

Trọng tâm là phải thực hiện triệt để tiết kiệm chi phí, trong đó phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 10% chi phí theo định mức, tiết kiệm tối thiểu 10% chi phí sửa chữa lớn đối với tất cả các đơn vị hạch toán phụ thuộc EVN, các Tổng công ty Phát điện, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia và các Tổng công ty Điện lực. Xem xét cắt giảm, không thực hiện các hạng mục sửa chữa chưa cần thiết. Đồng thời, EVN thực hiện triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, loại trừ các khoản chi tiền lương, các khoản có tính chất tiền lương, chi cho cán bộ nhân viên, các khoản chi phải bố trí đầy đủ theo cam kết quốc tế, nhiệm vụ chính trị và các nhiệm vụ chuyên môn đặc thù, quan trọng theo quy định, nhằm tạo nguồn cho cải cách tiền lương.

2. Chống lãng phí trong công tác mua sắm

EVN cần tăng cường chống lãng phí trong mua sắm tài sản, đẩy mạnh áp dụng phương thức mua sắm tập trung đối với các loại tài sản có nhu cầu sử dụng lớn, giá trị mua sắm cao và được sử dụng phổ biến trong toàn Tập đoàn; thực hiện nghiêm các quy định về ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước, tuân thủ chặt chẽ quy định về đấu thầu, mua sắm tài sản gắn với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Việc mua sắm, quản lý và sử dụng xe ô tô được thực hiện đúng tiêu chuẩn, định mức và chế độ theo quy định của Chính phủ và quy định nội bộ của EVN.

3. Đẩy mạnh công tác thanh, kiểm tra thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí

EVN cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện THTK, CLP, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định, đồng thời gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện; thực hiện công khai, minh bạch kết quả thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo đúng quy định pháp luật. Cơ chế khen thưởng, kỷ luật được áp dụng kịp thời nhằm khuyến khích các tập thể, cá nhân thực hiện tốt và nâng cao tính răn đe đối với các hành vi vi phạm.

4. Tuyên truyền, phổ biến các quy định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

EVN tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và quán triệt các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Chương trình tổng thể của Chính phủ và Chương trình THTK, CLP của EVN tới toàn thể cán bộ, công nhân viên trong Tập đoàn và các đơn vị. Thông qua việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ CBCNV và tổ chức thực hiện đồng bộ các chỉ tiêu, giải pháp THTK, CLP, EVN hướng tới tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong quản trị chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững trong giai đoạn 2026–2030.

II. TĂNG DOANH THU TRONG HOẠT ĐỘNG SXKD

Trong giai đoạn 2026–2030, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đảm bảo cân đối tài chính bền vững, EVN tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp tăng doanh thu trên tất cả các lĩnh vực hoạt động:

1. Trọng tâm trước hết là tăng doanh thu điện thương phẩm thông qua việc bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định để gia tăng sản lượng điện thương phẩm gắn với tăng trưởng phụ tải của nền kinh tế.

2. Cùng với đó, EVN thực hiện điều chỉnh giá bán lẻ điện kịp thời, phù hợp với biến động của giá nhiên liệu đầu vào theo cơ chế thị trường và quy định pháp luật, từng bước phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý, hợp lệ và có đủ lợi nhuận trong giá điện. Việc cải tiến cơ cấu biểu giá bán điện theo hướng minh bạch, giảm dần bù chéo giữa các nhóm khách hàng, đặc biệt là khách hàng công nghiệp, đồng thời tách bạch rõ ràng phần hoạt động công ích và chính sách an sinh xã hội khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh điện sẽ tạo nền tảng quan trọng để nâng cao doanh thu và hiệu quả tài chính của EVN.

3. Các Tổng công ty Điện lực (TCTĐL) cần tập trung mở rộng và giữ vững thị phần bán lẻ điện, áp dụng đúng giá điện theo đối tượng khách hàng theo quy định tại Biểu giá bán lẻ điện, đồng thời chủ động nghiên cứu, chuẩn bị phương án ứng phó với việc triển khai cơ chế DPPA, giá điện hai thành phần và biểu giá điện mới theo Quyết định số 05/2025/QĐ-TTg. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, các TCTĐL cần không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ, độ tin cậy cung cấp điện và trải nghiệm khách hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hạn chế nguy cơ suy giảm thị phần.

4. Ngoài ra, EVN chú trọng gia tăng doanh thu từ hoạt động tài chính và các hoạt động khác, thông qua việc nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính, quản lý hợp lý và tối ưu dòng tiền, doanh thu công suất phản kháng, đầu tư vốn tại doanh nghiệp, cổ phần và các dự án có khả năng sinh lời, tối đa cổ tức nộp về EVN, đồng thời tăng cường quản trị rủi ro tài chính.

5. Song song với hoạt động kinh doanh điện, EVN đẩy mạnh tăng doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác như tư vấn đầu tư xây dựng, xây lắp điện, cơ khí chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và công nghệ, tận dụng tối đa năng lực, kinh nghiệm và thương hiệu của Tập đoàn trong lĩnh vực năng lượng. Các Tổng công ty Phát điện tập trung tối ưu chiến lược chào giá các nhà máy điện tham gia thị trường điện cạnh tranh, nâng cao hiệu quả vận hành và tối đa hóa doanh thu từ phát điện trong khuôn khổ quy định hiện hành.

III. PHỐI HỢP CHẶT CHẼ HƠN NỮA VỚI NSMO TRONG LẬP KẾ HOẠCH VÀ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN VÀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN

Trong giai đoạn 2026–2030, EVN xác định việc phối hợp chặt chẽ với Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) là giải pháp then chốt nhằm bảo đảm vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống điện và thị trường điện.

1. EVN tăng cường phối hợp với NSMO trong công tác lập và rà soát kế hoạch vận hành hệ thống điện và thị trường điện hàng tháng, năm trên cơ sở cập nhật kịp thời tình hình phụ tải, nguồn điện, thủy văn, nhiên liệu và trạng thái lưới điện, qua đó chủ động các phương án điều độ, cung ứng điện và giảm thiểu chi phí mua điện của EVN.

2. EVN và NSMO phối hợp chặt chẽ trong vận hành các nguồn điện và lưới điện truyền tải, bảo đảm tuân thủ quy trình, quy định vận hành, nâng cao độ tin cậy hệ thống và hạn chế tối đa rủi ro sự cố.

3. Đồng thời, hai bên tăng cường phối hợp trong công tác vận hành thị trường điện bán buôn cạnh tranh, bảo đảm tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của thị trường.

4. Trên cơ sở thực tiễn vận hành, EVN phối hợp với NSMO và các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, quy định nhằm khắc phục các tồn tại, bất cập của thị trường điện, góp phần phát triển thị trường điện cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với lộ trình cải cách ngành điện và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.

IV. PHẦN CỔ PHẦN HÓA, THOÁI VỐN

Trong giai đoạn 2026–2030, EVN tiếp tục triển khai các giải pháp về cổ phần hóa (CPH), thoái vốn và quản lý vốn đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường kỷ luật thị trường và thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển ngành điện:

1. Về công tác cổ phần hoá

- Hoàn thành quyết toán CPH Công ty mẹ - EVNGENCO2 và bàn giao vốn sang CTCP trong năm 2026.

- Thực hiện công tác CPH Công ty mẹ - EVNGENCO1 trong giai đoạn 2026-2030 theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền.

2. Về công tác thoái vốn, giảm vốn

- Trong giai đoạn 2026-2030, để nâng cao hiệu quả quản trị, thu hút nguồn lực vốn bên ngoài đầu tư vào CTCP, góp phần đẩy mạnh ĐTXD phát triển nguồn điện mới, EVN sẽ xem xét kế hoạch giảm vốn của EVN tại EVNGENCO2,3 thông qua hình thức chào bán cổ phần để tăng Vốn điều lệ của EVNGENCO2,3, đảm bảo EVN vẫn duy trì tỷ lệ nắm giữ trên 50% Vốn điều lệ tại EVNGENCO2,3.

- Đối với việc thoái vốn của các TCT: Sau khi Nghị định về cơ chế đặc thù được ban hành, EVN sẽ thực hiện chuyển giao khoản đầu tư góp vốn của một số Tổng công ty 100% vốn của EVN tại các CTCP về một đầu mối để xử lý sở hữu chéo đảm bảo đúng quy định của pháp luật; ngoài ra, việc tập trung về một đầu mối quản lý cũng sẽ thuận lợi hơn trong việc kịp thời chỉ đạo Người đại diện biểu quyết, có ý kiến trong các cuộc họp ĐHĐCĐ, HĐQT, góp phần tăng tính hiệu quả trong quản lý phần vốn góp tại các CTCP.

3. Về công tác quản lý vốn

Nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại các doanh nghiệp có vốn góp (CTCP, TNHH 2TV): Đến hết năm 2025, Tổng giá trị vốn góp của EVN và các Tổng công ty vào các doanh nghiệp khác là khoảng 41.450 tỷ đồng, đạt lợi suất đầu tư hàng năm khoảng 6% (2024) - 7% (ước năm 2025), tương đương cổ tức EVN và các TCT thu về khoảng 2.600 tỷ (2024) - xấp xỉ 2.900 tỷ đồng (ước 2025); do vậy, việc quản lý hiệu quả vốn đầu tư tại các doanh nghiệp khác sẽ góp phần tăng doanh thu hoạt động tài chính của EVN và các Tổng công ty; bảo toàn và phát triển vốn góp giai đoạn 2026-2030.

V. GIÁM SÁT CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH VÀ NHẬN DIỆN, ĐÁNH GIÁ SỚM CÁC RỦI RO

EVN tiếp tục tăng cường công tác giám sát các chỉ số tài chính trọng yếu nhằm kịp thời nhận diện, cảnh báo sớm và chủ động kiểm soát các rủi ro tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Trọng tâm theo dõi bao gồm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu và an toàn vốn, hiệu quả sử dụng vốn, chi phí tài chính, dòng tiền hoạt động và khả năng cân đối thu – chi. Trên cơ sở phân tích định kỳ và so sánh với ngưỡng cảnh báo, EVN thực hiện đánh giá sớm các nguy cơ mất cân đối tài chính, gia tăng chi phí hoặc suy giảm hiệu quả hoạt động, từ đó kịp thời điều chỉnh phương án SXKD, kế hoạch đầu tư và các giải pháp quản trị chi phí.

Việc gắn công tác giám sát tài chính với trách nhiệm của người đứng đầu và hệ thống quản trị nội bộ, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý tài chính, sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, chủ động phòng ngừa rủi ro và cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của EVN.

VI. HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ, QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

1. Hoàn thiện và sớm ban hành Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Dự thảo Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam được xây dựng trên tinh thần của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm nhiều nội dung ảnh hưởng trọng yếu tới sự ổn định và phát triển của EVN trong giai đoạn sắp tới, đặc biệt là trong bối cảnh EVN vẫn đang còn lỗ luỹ kế và đang triển khai một loạt các dự án nguồn điện và lưới điện với nhu cầu vốn đầu tư rất lớn.

Vì vậy, EVN cần tiếp tục bám sát Bộ Tài chính và các cấp có thẩm quyền để hoàn thiện các thủ tục sớm ban hành Nghị định này.

2. Tiếp tục hoàn thiện chính sách giá bán lẻ điện

Trong giai đoạn 2026–2030, tiếp tục việc thực hiện điều chỉnh giá bán lẻ điện kịp thời, minh bạch theo biến động của các thông số đầu vào như nhiên liệu, tỷ giá, nhằm bảo đảm bù đắp đầy đủ chi phí hợp lý, hợp lệ và có lợi nhuận hợp lý để bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại EVN.

Để bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp, EVN cần bám sát Bộ Công Thương để hoàn thiện các thủ tục sửa đổi Nghị định số 72/2025/NĐ-CP để đưa các khoản chi phí phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất, cung ứng điện chưa được tính toán, bù đắp đầy đủ trong giá bán lẻ điện bình quân trước đây vào phương án tính toán giá bán lẻ điện hàng năm.

EVN tiếp tục phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước hoàn thiện cơ cấu biểu giá bán lẻ điện theo hướng phản ánh đúng chi phí cung ứng điện theo cấp điện áp, thời gian sử dụng và đặc điểm phụ tải; từng bước giảm bù chéo giữa các nhóm khách hàng, đặc biệt giữa khối sinh hoạt và khối sản xuất – công nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng điện, cải thiện tính minh bạch và công bằng trong giá điện.

Đồng thời, EVN chủ động chuẩn bị và triển khai các phương án giá điện mới như giá điện hai thành phần, giá điện theo thời gian sử dụng (TOU), phù hợp với lộ trình thị trường điện cạnh tranh.

Bên cạnh đó, EVN gắn việc điều hành giá điện với nâng cao chất lượng dịch vụ, độ tin cậy cung cấp điện và tối ưu chi phí nội tại, nhằm nâng cao khả năng chấp nhận của xã hội đối với điều chỉnh giá điện. Cần tách bạch rõ ràng phần chi phí thực hiện chính sách an sinh xã hội, nhiệm vụ công ích khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh điện để giúp phản ánh đúng hiệu quả SXKD của EVN, tạo điều kiện cải thiện dòng tiền, tăng khả năng tái đầu tư và nâng cao hiệu quả tài chính trong dài hạn. Thông qua các giải pháp đồng bộ về giá điện, EVN từng bước củng cố nền tảng tài chính, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững trong giai đoạn 2026–2030.

3. Hoàn thiện chính sách thuế

Trong bối cảnh chính sách thuế thường xuyên thay đổi và ngày càng phức tạp, EVN tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp quản trị thuế nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính – kế toán của toàn Tập đoàn. EVN chủ động tham gia góp ý xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thuế, phản ánh đầy đủ các đặc thù của hoạt động mua bán điện, đầu tư xây dựng và mô hình hạch toán tập trung. Đồng thời, EVN tích cực phối hợp với cơ quan thuế để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc lớn liên quan đến hóa đơn tiền điện, hoàn thuế GTGT đầu tư xây dựng, kê khai thuế tập trung, xử lý chênh lệch tỷ giá và các nghiệp vụ đặc thù khác:

3.1. Tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế

EVN tiếp tích cực tham gia góp ý trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các Luật, Nghị định, Thông tư trong lĩnh vực thuế, trọng tâm là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật quản lý thuế; các dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN; các dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định về hóa đơn, chứng từ điện tử, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và các Thông tư hướng dẫn liên quan.

Thông qua quá trình góp ý, EVN cần phản ánh kịp thời các đặc thù của hoạt động mua bán điện, đầu tư xây dựng, mô hình Ban quản lý dự án và cơ chế hạch toán tập trung, qua đó góp phần hoàn thiện chính sách theo hướng phù hợp thực tiễn doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn.

3.2. Xử lý vướng mắc về thuế trong giai đoạn chia tách, sáp nhập và sắp xếp lại địa giới hành chính

EVN tiếp tục chủ động hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị thành viên xử lý các vướng mắc liên quan đến công tác phát hành hóa đơn tiền điện trong giai đoạn thực hiện chia tách, sáp nhập theo chủ trương sắp xếp lại địa giới hành chính, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh điện được duy trì liên tục, không bị gián đoạn, đồng thời tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thuế, hóa đơn chứng từ.
Việc xử lý được triển khai bám sát các quy định mới tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế GTGT (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), đảm bảo thống nhất trong toàn Tập đoàn.

3.3. Chủ động tháo gỡ các tồn đọng, vướng mắc lớn trong lĩnh vực thuế

- Đối với công tác hoàn thuế GTGT hoạt động đầu tư xây dựng: EVN tiếp tục chủ động làm việc với các cơ quan có thẩm quyền, trực tiếp tham gia góp ý với cơ quan soạn thảo, đề nghị đưa mô hình Ban quản lý dự án vào Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, cho phép Ban quản lý dự án thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục hoàn thuế GTGT tại cơ quan thuế địa phương nơi có dự án đầu tư xây dựng. Đồng thời, EVN tiếp tục phối hợp với cơ quan thuế để xử lý việc chuyển số dư thuế GTGT đầu vào của hoạt động đầu tư xây dựng đã kê khai tập trung tại Công ty mẹ EVN, tạo cơ sở pháp lý cho việc kê khai, hoàn thuế theo đúng quy định.

- Đối với công tác kê khai thuế tập trung đối với các đơn vị hạch toán phụ thuộc: EVN tiếp tục triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ vướng mắc, bao gồm: Làm việc với cơ quan thuế để kiến nghị sửa đổi, bổ sung Thông tư số 80/2021/TT-BTC; đề xuất đưa nội dung kê khai thuế tập trung vào Nghị định quy định cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đặc thù của EVN; đồng thời kiến nghị nội dung này trong quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế.

- Đối với doanh thu chênh lệch tỷ giá của các nhà máy điện: EVN phối hợp với các cơ quan liên quan để xử lý các vướng mắc về doanh thu chênh lệch tỷ giá trong hoạt động sản xuất điện; đồng thời đề xuất đưa nội dung này vào Nghị định quy định cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đặc thù của EVN nhằm đảm bảo thống nhất trong công tác thuế.

- Đối với hóa đơn điều chỉnh/thay thế trong hoạt động mua bán điện nội bộ: EVN chủ động làm việc, giải trình với cơ quan thuế và các cơ quan liên quan để thống nhất phương án xử lý hóa đơn điều chỉnh, hóa đơn thay thế phù hợp với đặc thù hoạt động mua bán điện nội bộ trong EVN, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về thuế và hóa đơn chứng từ, đồng thời hạn chế rủi ro phát sinh cho các đơn vị.

4. Chính sách vay vốn

Để bố trí đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư các dự án điện theo nhiệm vụ được giao, EVN tiếp tục làm việc với các cấp có thẩm quyền để:

- Cho phép EVN và các doanh nghiệp do EVN sở hữu 100% vốn điều lệ đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao của các công trình điện để bổ sung vốn chủ sở hữu, làm nguồn vốn đối ứng để thực hiện các công trình điện, đảm bảo việc thực hiện vai trò của EVN trong việc cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

- Có ý kiến để Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện tháo gỡ vướng mắc về giới hạn tín dụng của các tổ chức tín dụng trong nước, tín dụng đầu tư của nhà nước để đầu tư các dự án điện; cho phép cơ chế đặc thù để vay vượt giới hạn tín dụng đối với các Dự án điện do EVN và các đơn vị thành viên làm chủ đầu tư để đảm bảo thu xếp đủ vốn phục vụ xây dựng và phát triển hạ tầng điện.

- Chấp thuận cơ chế tín dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước thực hiện dự án nhiêt điện than: Các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc chiếm cổ phần chi phối được miễn áp dụng quy định về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với chủ đầu tư và người có liên quan tại khoản 1 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng để cấp tín dụng vượt giới hạn thực hiện phần vốn đối ứng đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc công ty con của doanh nghiệp này để thực hiện đầu tư các dự án nhiệt điện than. Các khoản cấp tín dụng này không tính vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng đối với chủ đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng để không ảnh hưởng đến việc thu xếp vốn cho các công trình, dự án khác của chủ đầu tư.

5. Chế độ kế toán

EVN tiếp tục hoàn thiện chế độ kế toán theo hướng thống nhất, minh bạch và tiệm cận thông lệ quản trị hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và quản trị tài chính. Trọng tâm là rà soát, cập nhật và chuẩn hóa hệ thống chế độ, chuẩn mực và quy trình kế toán trong toàn Tập đoàn phù hợp với quy định pháp luật mới, đặc thù hoạt động điện lực và mô hình hạch toán tập trung, hoàn thiện Quy chế tài chính và các quy chế quản lý nội bộ lĩnh vực tài chính theo quy định tại Luật 68/2025/QH15 về Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Nghị định 366/2025/NĐ-CP về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bao gồm:

- Quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

- Quy chế nội bộ về cho vay vốn.

- Quy chế quản lý nợ phải thu, phải trả.

- Quy chế quản lý và sử dụng tài sản cố định.

- Quy chế quản lý sử dụng các quỹ.

VII. HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG EVN

Trong giai đoạn 2026–2030, EVN tiếp tục hoàn thiện công tác quản trị tài chính theo hướng hiện đại, minh bạch và tiệm cận thông lệ thị trường, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm cân bằng tài chính và bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp:

1. Xây dựng Kế hoạch tài chính, sử dụng linh hoạt và tối ưu các nguồn vốn huy động được với mục tiêu Tập đoàn đảm bảo kinh doanh có lãi, các chỉ tiêu tài chính đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tài chính cho vay vốn.

2. Phấn đấu tăng vốn điều lệ của Tập đoàn để đáp ứng yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh thông qua việc đánh giá lại các tài sản, tiếp nhận lưới điện và bổ sung tối đa lợi nhuận.

3. EVN xây dựng và triển khai kế hoạch tài chính trung và dài hạn phù hợp với lộ trình thị trường điện cạnh tranh, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các nguồn vốn huy động, bảo đảm duy trì hoạt động SXKD có lãi và đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính theo yêu cầu của các tổ chức tín dụng, nhà tài trợ vốn.

4. EVN tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính và hệ thống hạch toán chi phí trong toàn Tập đoàn; rà soát, sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính của EVN và các Tổng công ty; ban hành, cập nhật các quy định về quản trị chi phí, quản trị dòng tiền, định mức chi phí và cơ chế khuyến khích thực hiện các chỉ tiêu hiệu quả nhằm tạo động lực cho các đơn vị chủ động tăng doanh thu, tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Song song với đó, EVN triển khai các đề án tăng cường quản trị hàng tồn kho, tối ưu giá trị tồn kho và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản cố định, qua đó cải thiện hiệu quả sử dụng vốn.

4. EVN nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tài chính, tổ chức và hạch toán, từng bước tách bạch rõ hoạt động phân phối và bán lẻ điện tại các Tổng công ty Điện lực, bảo đảm minh bạch chi phí và hiệu quả kinh doanh.

6. Hoàn thiện công tác quản trị tài chính trong EVN giai đoạn tới kết hợp đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và năng lực ra quyết định. EVN tiếp tục hoàn thiện và tối ưu hóa hệ thống ERP dùng chung toàn Tập đoàn, tích hợp các phân hệ tài chính – kế toán, quản trị vốn, quản trị đầu tư, quản lý tài sản và dòng tiền theo thời gian thực. Đồng thời, đẩy mạnh số hóa dữ liệu tài chính và các quy trình quản lý tài chính – kế toán, xây dựng kho dữ liệu tập trung (data warehouse), ứng dụng phân tích dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) trong dự báo dòng tiền, nhu cầu vốn, rủi ro tỷ giá, lãi suất và hiệu quả đầu tư dự án. Tăng cường áp dụng hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, quy trình phê duyệt số, từng bước tự động hóa các khâu hạch toán, kiểm soát chi phí và quyết toán đầu tư. Qua đó, nâng cao chất lượng quản trị tài chính, giảm chi phí quản lý, tăng khả năng kiểm soát rủi ro và hỗ trợ EVN vận hành hiệu quả trong bối cảnh thị trường điện cạnh tranh.

PHẦN IV. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

I. CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ

1. Kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ quan tâm, chỉ đạo điều hành giá bán lẻ điện kịp thời, đủ bù đắp chi phí hợp lý, hợp lệ với lợi nhuận hợp lý để bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong bối cảnh các nguồn điện mới chủ yếu là nguồn điện đắt tiền (gió ngoài khơi, LNG, điện hạt nhân…) có giá thành cao hơn nhiều so với giá bán lẻ điện bình quân.

2. Kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính sớm hoàn thiện các thủ tục ban hành Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam để tạo ra bước đột phá trong quá trình phát triển của EVN trong giai đoạn sắp tới, đáp ứng vai trò chủ đạo của EVN trong cung cấp điện liên tục, ổn định và bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

3. Kính đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp (thay thế Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017, Nghị định số 140/2020/NĐ-CP ngày 30/11/2020 về CPH) để tạo điều kiện thống nhất về cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp thực hiện công tác CPH.

4. Kính đề nghị Chính phủ cho phép các doanh nghiệp là công ty cổ phần có vốn góp của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hiện đang niêm yết, đăng ký giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán chưa đáp ứng điều kiện công ty đại chúng về cơ cấu cổ đông theo quy định của Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 56/2024/QH15) thì không bị hủy tư cách công ty đại chúng như quy định tại khoản 7 Điều 59 Luật số 68/2025/QH15 đối với các doanh nghiệp nhà nước.

5. Kính đề nghị Chính phủ xem xét chỉ đạo sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2020 theo hướng trường hợp các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 thì không phải thực hiện thoái vốn sở hữu chéo theo quy định tại Khoản 3 Điều 195 Luật DN 2020, cụ thể đề nghị sửa Khoản 1 Điều 218 Luật DN 2020 như sau: “Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 195 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo”.

6. Kính đề nghị Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện tháo gỡ vướng mắc về giới hạn tín dụng của các tổ chức tín dụng trong nước, tín dụng đầu tư của nhà nước để đầu tư các dự án điện; cho phép cơ chế đặc thù để vay vượt giới hạn tín dụng đối với các Dự án điện do EVN và các đơn vị thành viên làm chủ đầu tư để đảm bảo thu xếp đủ vốn phục vụ xây dựng và phát triển hạ tầng điện, đảm bảo vai trò dẫn dắt của EVN trong lĩnh vực năng lượng và cung ứng điện.

7. Kính đề nghị Chính phủ xem xét chấp thuận để báo cáo Quốc hội cơ chế tín dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước thực hiện dự án nhiêt điện than: Các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc chiếm cổ phần chi phối được miễn áp dụng quy định về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với chủ đầu tư và người có liên quan tại khoản 1 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng để cấp tín dụng vượt giới hạn thực hiện phần vốn đối ứng đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc công ty con của doanh nghiệp này để thực hiện đầu tư các dự án nhiệt điện than. Các khoản cấp tín dụng này không tính vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng đối với chủ đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng để không ảnh hưởng đến việc thu xếp vốn cho các công trình, dự án khác của chủ đầu tư.

8. Kính đề nghị Chính phủ chỉ đạo quyết liệt để giải quyết dứt điểm khó khăn đối với các dự án năng lượng tái tạo gió và mặt trời đã đưa vào vận hành giai đoạn 2018-2021 theo cơ chế giá cố định ưu đãi, đặc biệt là vướng mắc của 172 dự án có ngày chấp thuận kết quả nghiệm thu sau ngày vận hành thương mại nhằm khơi thông nguồn lực, đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng và tăng cường niềm tin vào môi trường đầu tư trong nước.

II. CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI BỘ TÀI CHÍNH

1. Kính đề nghị Bộ Tài chính xem xét, sớm trình Chính phủ thông qua và ban hành Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam trên cơ sở thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật 68) về Quyền, trách nhiệm của Chính phủ: “Quy định cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước và doanh nghiệp trong một số lĩnh vực đặc thù”.

2. Để bố trí đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư, đặc biệt là cho dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và các dự án điện lớn khác, EVN kính đề nghị Bộ Tài chính:

- Cho phép EVN và các doanh nghiệp do EVN sở hữu 100% vốn điều lệ đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao của các công trình điện để bổ sung vốn chủ sở hữu, làm nguồn vốn đối ứng để thực hiện các công trình điện, đảm bảo việc thực hiện vai trò của EVN trong việc cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

III. CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI BỘ CÔNG THƯƠNG

1. Kính đề nghị Bộ Công Thương xem xét và tiếp thu đầy đủ các đề xuất, kiến nghị của EVN trong thực tế triển khai thị trường bán buôn điện cạnh tranh và xây dựng Quyết định điều chỉnh lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam để bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại EVN, đảm bảo năng lực tài chính và vai trò chủ đạo của EVN trong đảm bảo cung cấp điện. Tiếp tục chiến lược phát triển EVN thành một Tập đoàn kinh tế mạnh với vai trò trụ cột của nền kinh tế nhà nước (mục tiêu tập đoàn kinh tế mạnh thuộc nhóm 500 Doanh nghiệp lớn nhất thế giới), đủ nguồn lực để tiếp tục đầu tư phát triển nguồn, lưới điện trong giai đoạn tới.

2. Kính đề nghị Bộ Công Thương xem xét, nghiên cứu tiếp thu các nội dung góp ý của EVN cho Dự thảo Quyết định của Thủ tướng quy định lộ trình các cấp độ thị trường điện cạnh tranh thay thế cho Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó có các nội dung ảnh hưởng trọng yếu tới năng lực tài chính của EVN cần phải được xem xét kỹ lưỡng:

- Tiếp tục duy trì mô hình EVN: Quản lý lưới điện thống nhất bao gồm lưới điện truyền tải và phân phối; các các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu, điện hạt nhân, thủy điện tích năng; Quản lý các GENCO là các công ty con của EVN, hạch toán độc lập.

- Tách bạch các khâu phân phối và bán lẻ điện tại các TCTĐL, hình thành các Công ty kinh doanh bán lẻ điện để tăng cường cạnh tranh về dịch vụ và hiệu quả quản lý khách hàng với các công ty kinh doanh điện mới bên ngoài, tăng lựa chọn cho người dân, đồng thời tiếp tục bán điện cho khách hàng không tham gia thị trường theo biểu giá do nhà nước quy định, bao gồm cả khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo để đảm bảo an sinh xã hội.

- EVN tiếp tục đóng vai trò là doanh nghiệp nhà nước chủ đạo về cung ứng điện năng, đồng thời là đơn vị mua điện và bán lẻ cuối cùng cho khách hàng mua, bán điện theo biểu giá điều tiết của Nhà nước, đảm bảo an sinh xã hội và khả năng tiếp cận điện năng cho mọi đối tượng khách hàng.

- EVN tiếp tục đảm nhận nhiệm vụ điều tiết chi phí mua buôn, phân phối và bán lẻ điện để giữ giá bán lẻ điện ở mức thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; phân bổ hợp lý chi phí giữa các vùng/miền nhằm đảm bảo công bằng xã hội, cơ hội tiếp cận điện năng bình đẳng trên toàn quốc.

- Việc phân bổ hợp đồng mua bán điện cần được triển khai với tiến độ thận trọng, phù hợp với khả năng hấp thụ của các TCTĐL.

- EVN đề nghị NSMO không thực hiện chức năng thanh toán trên thị trường giao ngay với các lý do sau đây:

+ NSMO hiện tại đang thực hiện các chức năng: điều độ vận hành hệ thống điện; lập kế hoạch, lập lịch huy động các nhà máy điện trực tiếp và gián tiếp tham gia thị trường; tính toán đề xuất các thông số vận hành thị trường điện (SMPcap, CAN, tỷ lệ alpha, hệ số a); tính toán phân bổ sản lượng hợp đồng Qc năm, tháng, chu kỳ giao dịch; tính toán công bố bảng kê thanh toán thị trường điện; tính toán nhu cầu, huy động và khoản thanh toán cho dịch vụ phụ trợ trên thị trường điện. NSMO đồng thời là đơn vị quản lý số liệu đo đếm điện năng trong thị trường điện. Việc NSMO thực hiện thêm chức năng thanh toán trên thị trường giao ngay đồng nghĩa việc thêm đơn vị thanh toán trung gian không cần thiết (hiện bên mua thanh toán trực tiếp cho bên bán theo bảng kê thanh toán thị trường điện do NSMO công bố), làm phát sinh chi phí bảo lãnh, quản lý thực hiện các hợp đồng mua bán điện, giảm hiệu quả sử dụng dòng tiền, đồng thời giảm tính minh bạch, dễ sai sót, tăng nguy cơ lũng đoạn thị trường.

+ Mô hình thị trường điện tại các quốc gia trên thế giới không có nước nào có một đơn vị vừa điều độ nhà máy điện và hệ thống điện truyền tải, vừa điều hành giao dịch thị trường điện, vừa quản lý số liệu đo đếm điện năng, vừa thực hiện thanh toán trên thị trường giao ngay.

3. Kính đề nghị Bộ Công Thương xem xét, nghiên cứu tiếp thu các nội dung góp ý của EVN cho Dự thảo Luật điện lực sửa đổi đã được EVN báo cáo tại văn bản số 258/EVN-PC ngày 14/01/2026 cũng như các ý kiến của EVN tại văn bản số 7971/BC-EVN ngày 13/12/2025 về việc tổng kết thi hành Luật Điện lực 2024, trong đó có các khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi Luật Điện lực 2024 có hiệu lực đến nay.

4. Kính đề nghị Bộ Công Thương báo cáo Chính phủ chỉ đạo giải quyết dứt điểm vướng mắc của các dự án năng lượng tái tạo có sai phạm đã được Thanh tra Chính phủ chỉ ra tại văn bản số 1027/KL-TTCP ngày 28/4/2023, phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 233/NQ-CP ngày 10/12/2024 Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 năm 2024.

IV. CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI ĐẢNG UỶ TẬP ĐOÀN

Từ các nhóm giải pháp nêu trên, kiến nghị Đảng uỷ Tập đoàn tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và xuyên suốt trong giai đoạn 2026–2030, coi nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm cân bằng tài chính, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trên cơ sở xem xem xét đánh giá các thuận lợi, khó khăn thách thức giai đoạn sắp tới và một số giải pháp đã nêu, trong đó tập trung chỉ đạo các đơn vị liên quan bám sát Chính phủ và các Bộ ngành để giải quyết các kiến nghị; chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với trách nhiệm người đứng đầu; chỉ đạo quyết liệt các giải pháp tăng doanh thu, hoàn thiện cơ chế giá điện theo thị trường, chủ động thích ứng với cơ chế DPPA; lãnh đạo công tác phối hợp chặt chẽ với NSMO trong vận hành hệ thống điện và thị trường điện, bảo đảm an toàn, hiệu quả và tối ưu chi phí; chỉ đạo thực hiện đúng lộ trình cổ phần hóa, thoái vốn, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, gắn với nâng cao kỷ luật tài chính và quản trị rủi ro; lãnh đạo việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ chế tài chính đặc thù, chính sách giá và thuế, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản trị tài chính; giám sát chặt chẽ các chỉ số tài chính trọng yếu.

Qua đó tạo nền tảng tài chính vững chắc cho EVN, nâng cao năng lực cạnh tranh, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2030 EVN trở thành Tập đoàn kinh tế nhà nước quy mô lớn, giữ vai trò chính trong việc đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; xây dựng và phát triển EVN thông minh, bền vững trên cơ sở chuyển đổi số toàn diện, phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạọ; phấn đấu lọt nhóm 500 Doanh nghiệp Lớn nhất Thế giới (Fortune Global 500).

Tải tài liệu chuyên đề tại đây.

Trong giai đoạn 2021-2025, EVN đã tích cực triển khai công tác sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp cùng với đổi mới, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Đặc biệt, trong năm 2025, EVN đã chủ động thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của EVN và các đơn vị bám sát chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ về cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, chính quyền, đơn vị hành chính; đồng thời, ban hành Quy chế phân cấp theo hướng triệt để phân cấp cho các cấp đơn vị thành viên EVN trong các lĩnh vực công tác, rà soát tổng thể, ban hành lại hệ thống quy chế quản lý nội bộ (QCQLNB) theo hướng tinh gọn, phù hợp phân cấp mới.

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ EVN lần thứ IV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã đề ra mục tiêu tổng quát, trong đó có “Quản trị doanh nghiệp minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, đây cũng là 1 trong 3 khâu đột phá của nhiệm kỳ 2025-2030; thống nhất các giải pháp về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong đó có giải pháp “Quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tập trung hoàn thiện thể chế quản lý nội bộ, phân cấp, phân quyền tối đa, triệt để”. Là tiền đề để xây dựng và phát triển EVN thành Tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, quy mô lớn, có nền quản trị hiện đại, giữ vai trò trụ cột đảm bảo an ninh cung ứng điện và an ninh năng lượng quốc gia.

1. Kết quả sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, cơ cấu lại doanh nghiệp và đổi mới, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp của EVN giai đoạn 2021-2025

1.1. Về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, cơ cấu lại doanh nghiệp

EVN đã xây dựng, trình duyệt, báo cáo giải trình và Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án cơ cấu lại EVN giai đoạn đến hết năm 2025 tại Quyết định số 1271/QĐ-TTg ngày 25/10/2024. Đảng ủy EVN đã ban hành Nghị quyết số 266-NQ/ĐU ngày 16/11/2024, HĐTV EVN đã có Quyết định số 179/QĐ-HĐTV ngày 19/11/2024 về việc ban hành Kế hoạch triển khai Đề án cơ cấu lại EVN giai đoạn đến hết năm 2025; EVN đã kịp thời phê duyệt Đề án cơ cấu lại 09 Tổng công ty giai đoạn đến hết năm 2025 để triển khai thực hiện.

Đồng thời, trong giai đoạn này, EVN cũng chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ về sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền và HĐTV EVN như sau:

- Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tách Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) thành Công ty TNHH MTV và chuyển giao về Bộ Công Thương; báo cáo Ủy ban QLVNN xem xét, đề nghị Bộ Công Thương trình Chính phủ về Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều lệ EVN.

- EVN đã triển khai sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của các đơn vị trong Tập đoàn để phù hợp với thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng đến thực chất và hiệu quả như: phê duyệt mô hình tổ chức và định biên lao động 09 Tổng công ty; sắp xếp các Ban QLDA thuộc 03 EVNGENCO; kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức, nâng cao năng lực của EVNICT; phê duyệt cơ cấu lại một số đơn vị trong khối dịch vụ sửa chữa, các đề án đảm bảo việc làm và đời sống người lao động khối các Ban QLDA, các Trường cao đẳng và các đơn vị dịch vụ sửa chữa trong Tập đoàn;...

- Kiện toàn Ban QLDA Điện hạt nhân Ninh Thuận; thành lập MNNĐ Quảng Trạch.

- EVN đã triển khai xây dựng Đề án thành lập 02 Công ty TNHH MTV Nhiệt điện Thái Bình và Vĩnh Tân 4 trên cơ sở Công ty Nhiệt điện Thái Bình và Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4; báo cáo Bộ Tài chính xem xét, chưa trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt do chưa đảm bảo điều kiện hoạt động theo mô hình công ty hạch toán độc lập.

- EVN đã phối hợp, hoàn thành thủ tục bàn giao và chính thức tiếp nhận, vận hành NMĐ BOT Phú Mỹ 3 từ 00h00 ngày 01/3/2024, NMĐ BOT Phú Mỹ 2.2 từ 00h00 ngày 04/02/2025 an toàn, ổn định và thành công.

- Năm 2025, quán triệt, bám sát Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và các kết luận, kế hoạch, văn bản chỉ đạo có liên quan của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; Đảng ủy EVN đã ban hành các Nghị quyết chỉ đạo sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của EVN và các đơn vị thành viên. Trong tháng 6/2025, EVN đã hoàn thành công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy quản lý, điều hành của EVN, của các Tổng công ty và các công ty giai đoạn 1, cụ thể như sau:

+ Công ty mẹ-EVN: giảm 05 Ban chức năng (tỷ lệ giảm 24%), kết thúc hoạt động 02 đơn vị trực thuộc EVN là EVNPSC và EVNCTI.

+ Các TCTĐL, EVNNPT, các EVNGENCO sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo mô hình Tổng công ty 02 cấp; giảm các Ban/phòng chức năng (giảm 16 Ban chức năng của 09 Tổng công ty); sáp nhập các Công ty Điện lực (CTĐL) tỉnh/thành phố đồng bộ với việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh (giảm từ 61 còn 33 CTĐL tỉnh/thành phố, tỷ lệ giảm 46%); kết thúc hoạt động điện lực cấp huyện trong các TCTĐL miền (593 Điện lực) và tổ chức lại thành các Đội quản lý điện theo khu vực; tổ chức lại các CTĐL quận/huyện thuộc TCTĐL TP. Hà Nội (giảm từ 30 còn 12 CTĐL khu vực, tỷ lệ giảm 60%) và TCTĐL TP. Hồ Chí Minh (sau khi tiếp nhận 02 CTĐL Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu) (giảm từ 33 CTĐL/ĐL còn 15 CTĐL khu vực, tỷ lệ giảm 54,5%), đồng bộ với kết thúc đơn vị hành chính cấp huyện; sắp xếp, cơ cấu lại 33 Truyền tải điện và 04 Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật trực thuộc các Công ty TTĐ, thành 28 TTĐ và 04 Đội sửa chữa thí nghiệm trong EVNNPT.

+ Các công ty con khác và các đơn vị trực thuộc EVN triển khai phương án sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm các phòng chuyên môn/phân xưởng hoặc tương đương.

- EVN đã hoàn thành quyết toán CPH EVNGENCO3 và bàn giao vốn sang CTCP; khẩn trương báo cáo và Kiểm toán Nhà nước đã hoàn thành kiểm toán quyết toán giá trị phần vốn nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành CTCP của EVNGENCO2, phấn đấu hoàn thành công tác quyết toán CPH EVNGENCO2 và bàn giao vốn sang CTCP trong năm 2026.

1.2. Đổi mới, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp

Trong giai đoạn 2021-2025, cùng với việc thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp, với mục tiêu đổi mới, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp (QTDN), EVN đã xây dựng Đề án nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Ngày 19/5/2021, Hội đồng thành viên EVN đã có Nghị quyết số 226/NQ-HĐTV thông qua Đề án, bao gồm: 24 chỉ tiêu nâng cao năng lực quản trị; 03 nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản trị (với 74 nhiệm vụ cụ thể), gồm: (i) hoàn thiện hệ thống quy trình, quy định; (ii) cách thức, công cụ quản trị; (iii) chuẩn hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ chế chính sách đãi ngộ đối với người lao động. EVN đã chỉ đạo triển khai trong toàn Tập đoàn từ tháng 5/2021. Sau 5 năm triển khai thực hiện Đề án đã đạt được kết quả như sau:

- Cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện hệ thống quy trình, quy định trong Tập đoàn như thường xuyên rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung hệ thống QCQLNB của EVN nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành SXKD của EVN, phù hợp với các quy định pháp luật mới ban hành. Hàng năm, EVN đều ban hành Chương trình xây dựng QCQLNB, trong đó năm 2021, EVN đã rà soát và ban hành hệ thống gồm 45 QCQLNB; năm 2025, EVN đã ban hành Quy chế phân cấp và rà soát, hoàn thiện, ban hành hệ thống các QCQLNB của EVN theo hướng tinh gọn, triệt để phân cấp, phân quyền. Từ năm 2022, EVN đã thuê đơn vị tư vấn luật hàng tháng rà soát, đánh giá tác động của VBQPPL mới ban hành có liên quan đến hoạt động của EVN, đơn vị, từ đó đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung các quy định không phù hợp trong hệ thống QCQLNB của EVN. Kết quả đến nay, EVN đã phối hợp với đơn vị tư vấn luật rà soát tổng thể 5368 VBPL, đánh giá tác động của 741 VBPL (trong đó từ tháng 01/2025 đến nay rà soát 1797 VBPL, đánh giá tác động của 261 VBPL). Hoàn thành và đưa vào sử dụng hệ thống Pháp điển QCQLNB dùng chung trong Tập đoàn cuối năm 2022 tạo thuận lợi, nhanh chóng khi tra cứu của CBCNV; chủ động, tích cực tham gia vào quá trình xây dựng các VBQPPL có liên quan đến hoạt động SXKD của EVN (trong 05 năm EVN đã gửi hơn 250 lượt văn bản xây dựng, góp ý sửa đổi, bổ sung các dự thảo VBQPPL). EVN cũng đã ban hành một số quy trình, quy định quan trọng phục vụ cho công tác quản trị  như quản trị rủi ro; kiểm toán nội bộ và giám sát tài chính; hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng của các Ban QLDA trực thuộc EVN, hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng; quy định đánh giá chất lượng nhà thầu; các định mức/đơn giá trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, sửa chữa bảo dưỡng các công trình điện và suất vốn đầu tư các công trình lưới điện.

- Các công cụ phục vụ cho QTDN của Tập đoàn cũng đã được xây dựng, nâng cấp đưa vào sử dụng, cùng với việc thực hiện chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực hoạt động đã phục vụ tốt công tác quản lý, điều hành hoạt động SXKD của Tập đoàn; góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả SXKD và năng suất lao động trong toàn Tập đoàn. Đến nay, toàn Tập đoàn áp dụng thống nhất hệ thống D-Office, chữ ký số được sử dụng trên hệ thống D-Office và trong nhiều hoạt động khác như ĐTXD, quản lý kỹ thuật, vận hành, KD&DVKH; cung cấp 100% dịch vụ điện trên Cổng DVCQG, khai thác thông tin từ CSDL Quốc gia về dân cư, tích hợp định danh điện tử, thực hiện số hóa hồ sơ và khai thác hồ sơ điện tử của công dân và doanh nghiệp; kết nối đến 24 ngân hàng lớn và 17 tổ chức trung gian thanh toán phục vụ công tác thanh toán không sử dụng tiền mặt, tỷ lệ thanh toán điện tử đạt 98,56%; đã đưa vào triển khai phần mềm quản lý ĐTXD - IMIS2.0 với 23 phân hệ, đã giảm được 50% thời gian tìm kiếm thông tin và hồ sơ, đẩy mạnh công tác giám sát thi công nâng cao chất lượng thi công công trình. Triển khai nhật ký, biên bản thi công điện tử, thẩm tra thẩm định điện tử và phê duyệt tài liệu thiết kế đã tiết kiệm được 30% thời gian thực hiện các nội dung; chuẩn hóa toàn bộ thông số kỹ thuật VTTB chính (lưới 11 chủng loại; nguồn 80 chủng loại) với 5.000 VTTB được gán chủng loại, trên 35.860 VTTB được chuẩn hóa trong CSDL giá tại 09 Tổng công ty và 03 Ban QLDA Điện 1, 2, 3, để các đơn vị tham khảo giá VTTB cùng chủng loại để nâng cao tiết kiệm chi phí trong toàn Tập đoàn. Quản lý và số hóa dữ liệu cá nhân của người lao động trong toàn Tập đoàn, nhiều nghiệp vụ về quản trị nhân sự được thực hiện trên HRMS;…

- Cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mặc dù khó khăn do đại dịch Covid-19 và tình hình SXKD của EVN, công tác ĐTPTNNL được duy trì tổ chức một cách hệ thống, chuyển đổi linh hoạt, sử dụng tối đa các hoạt động chuyển đổi số trong công tác đào tạo đảm bảo CBCNV (trong đó có hệ thống E-learning), đặc biệt người lao động sản xuất trực tiếp được đào tạo thường xuyên, đáp ứng yêu cầu công việc; các chương trình đào tạo CBQL được tổ chức bài bản, cập nhật kiến thức về quản trị hiện đại cho đội ngũ CBQL các cấp trong toàn Tập đoàn; chương trình phát triển chuyên gia bước đầu đã có những thành tựu trong việc xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho EVN hướng tới làm chủ công nghệ; các chương trình đào tạo về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được tổ chức rộng rãi; các hoạt động hợp tác về đào tạo được triển khai mạnh mẽ; hoàn thành khung năng lực và vị trí chức danh trong Tập đoàn; ban hành Tài liệu Văn hóa EVN mới; xây dựng cơ chế chính sách đảm bảo thu nhập, tiền lương cho người lao động,…

Bên cạnh các kết quả đạt được, một số chỉ tiêu, nhiệm vụ nâng cao năng lực quản trị chưa đáp ứng yêu cầu, lộ trình đặt ra như chưa đảm bảo cân bằng tài chính, đến hết năm 2025, EVN vẫn còn lỗ lũy kế (các năm 2022-2023, mặc dù EVN và các đơn vị đã nỗ lực thực hiện các giải pháp tiết kiệm chi phí, giá bán lẻ điện bình quân đã được điều chỉnh tăng 2 lần nhưng vẫn chưa bù đắp được chi phí, EVN bị lỗ 2 năm liên tiếp; năm 2024 EVN lãi 5.237 tỷ đồng; năm 2025 vượt chỉ tiêu lợi nhuận được giao); năng suất lao động tăng bình quân trong giai đoạn 2021-2025 ước đạt 6,8%/năm, chưa đạt chỉ tiêu tăng bình quân trên 8%/năm (do đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế, dẫn đến phụ tải giai đoạn 2021-2022 thấp hơn đáng kể so với kế hoạch, sản lượng điện thương phẩm không đạt kế hoạch, nên mặc dù lao động giảm bình quân 0,8%/năm nhưng vẫn không đạt chỉ tiêu năng suất lao động); trong những năm đầu giai đoạn 2021-2025, thể chế quản lý chưa tinh gọn, hệ thống QCQLNB chưa hoàn thiện; quy trình xử lý nội bộ phức tạp, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn không rõ, trùng lắp, ít phân cấp, phân quyền; thu nhập của người lao động một số bộ phận tại một số đơn vị (nhất là Ban QLDA, khối dịch vụ sửa chữa, khối trường cao đẳng) còn thấp.

2. Kết quả xây dựng, triển khai Quy chế phân cấp mới của EVN, rà soát, ban hành hệ thống quy chế quản lý nội bộ (QCQLNB) của EVN và các đơn vị trong năm 2025

2.1. Xây dựng, triển khai Quy chế phân cấp mới của EVN

Tại Nghị quyết số 275-NQ/ĐU ngày 14/01/2025 của BCH Đảng bộ EVN về định hướng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của EVN và các đơn vị thành viên, đã nêu định hướng về tập trung rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ của EVN và các đơn vị thành viên theo hướng phân cấp, phân quyền tối đa theo quy định; rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi đơn vị, tập thể, cá nhân và bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành quy chế, quy định với cấp tổ chức thực hiện.

Thực hiện Chương trình công tác của HĐTV năm 2025 ban hành kèm theo Nghị quyết số 06/NQ-HĐTV ngày 07/01/2025, EVN đã chỉ đạo các Ban, Văn phòng, các đơn vị thành viên rà soát hệ thống QCQLNB để thống kê các bất cập, đề xuất sửa đổi bổ sung các quy định liên quan nhằm tăng cường phân cấp, phân quyền cho các đơn vị, thúc đẩy quản trị doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch trọng yếu, cho phép đơn vị chủ động điều hòa các nguồn vốn, chi phí. Trên cơ sở đó, Tổng giám đốc đã trình HĐTV xem xét ban hành Quy chế phân cấp và định hướng hoàn thiện hệ thống QCQLNB trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam [1]. Ngày 25/4/2025, HĐTV đã có Nghị quyết số 140/NQ-HĐTV thông qua, ban hành Quy chế phân cấp tại Quyết định số 99/QĐ-HĐTV, có hiệu lực từ ngày 01/6/2025.

Thực hiện Quy chế phân cấp, Tổng giám đốc đã ban hành Quyết định số 630/QĐ-EVN ngày 15/5/2025 phân cấp cho Giám đốc các đơn vị trực thuộc; EVN đã chỉ đạo triển khai Quy chế phân cấp và định hướng hoàn thiện hệ thống QCQLNB [2], trong đó chỉ đạo HĐTV/Chủ tịch công ty các Công ty TNHH MTV cấp II và người đại diện phần vốn của EVN tại các CTCP khẩn trương chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện phân cấp cho các cấp quản lý, điều hành thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và các nguyên tắc quy định tại Quy chế phân cấp, đảm bảo hiệu lực áp dụng từ ngày 01/06/2025; các Ban, Văn phòng và các đơn vị thành viên đã căn cứ Quy chế phân cấp để tham mưu, trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định các nội dung công việc theo quy định; các đơn vị thành viên đã hoàn thành xây dựng phân cấp cho các cấp quản lý, điều hành thuộc phạm vi quản lý, hoàn thành xây dựng, ban hành hệ thống QCQLNB của đơn vị, chủ động quyết định các nội dung công việc khác theo thẩm quyền tại Quy chế phân cấp.

2.2. Rà soát, ban hành hệ thống QCQLNB theo định hướng mới của EVN

Triển khai định hướng hoàn thiện hệ thống QCQLNB tại Nghị quyết số 140/NQ-HĐTV ngày 25/4/2025 của HĐTV, EVN đã tiến hành rà soát tổng thể hệ thống QCQLNB để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các QCQLNB, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của HĐTV, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với nguyên tắc, thẩm quyền quy định tại Quy chế phân cấp.

Trong năm 2025, EVN đã hoàn thành xây dựng, ban hành mới 20 QCQLNB với phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng bao gồm Cơ quan EVN, các đơn vị trực thuộc và Người đại diện của EVN tại các doanh nghiệp khác; đối với các vấn đề cần quy định để quản lý thống nhất tại nhiều đơn vị thành viên, thực hiện thông qua nội dung chỉ đạo Người đại diện trong các QCQLNB; nội dung QCQLNB đảm bảo tinh gọn, không quy định lại các nội dung đã có trong các văn bản pháp luật, chỉ quy định các nội dung mang tính quy phạm, lưu đồ hóa tối đa các nội dung mang tính quy trình, nghiệp vụ, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả. Tổng số QCQLNB do EVN ban hành đang có hiệu lực là 05 Quy chế, 20 Quy định, 04 Quy trình.

Tại các công ty con, HĐTV/Chủ tịch công ty Công ty TNHH MTV cấp II, Người đại diện vốn của EVN tại các CTCP đã căn cứ thẩm quyền tại Quy chế phân cấp và các chỉ đạo của EVN về xây dựng phân cấp, ban hành hệ thống QCQLNB của đơn vị, thực hiện rà soát để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các QCQLNB thuộc thẩm quyền, áp dụng từ 01/6/2025, thay thế cho việc áp dụng trực tiếp các QCQLNB có phạm vi áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, cập nhật các yêu cầu của EVN đối với Người đại diện tại doanh nghiệp khác trong việc quản lý, xây dựng quy định tại đơn vị trong các lĩnh vực (nếu có). Trong năm 2025, các công ty con đã cơ bản hoàn thành công tác xây dựng, ban hành QCQLNB theo đúng yêu cầu, chỉ đạo, hướng dẫn của EVN (EVNGENCO1 có 32 QCQLNB; EVNGENCO2 có 54 QCQLNB; EVNGENCO3 có 45 QCQLNB; EVNNPT có 40 QCQLNB; EVNNPC có 34 QCQLNB; EVNCPC có 68 QCQLNB; EVNSPC có 73 QCQLNB; EVNHANOI có 40 QCQLNB; EVNHCMC có 62 QCQLNB).

2.3. Đánh giá

Quy chế phân cấp nói riêng và hệ thống các quy định về phân cấp, phân quyền trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam nói chung về cơ bản đã đảm bảo tăng cường phân cấp, phân quyền, rõ ràng giữa các cấp quản lý, điều hành, bảo đảm quyền quản lý thống nhất của EVN; phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các cấp quản lý, điều hành, đẩy mạnh tính linh hoạt, sáng tạo, giải phóng nguồn lực, thúc đẩy phát triển của các doanh nghiệp trong toàn Tập đoàn; cắt giảm tối đa thủ tục nội bộ, giao quyền chủ động cho các đơn vị chủ động quyết định và chịu trách nhiệm; quá trình triển khai thực hiện cơ bản không phát sinh vướng mắc, khó khăn.

EVN đã kịp thời được rà soát, cập nhật, ban hành các QCQLNB của EVN, phù hợp với quy định của pháp luật và phân cấp mới, đảm bảo tinh gọn; các Tổng công ty cập nhật, xây dựng và ban hành các QCQLNB của đơn vị, đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật, định hướng của EVN.

3. Chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Đảng bộ EVN về đổi mới, quản trị doanh nghiệp hiện đại gắn với sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp, hướng đến áp dụng nguyên tắc quản trị theo chuẩn mực quốc tế (nguyên tắc quản trị của OECD)

3.1. Ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó:

- Quan điểm chỉ đạo nêu: “Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế”.

- Nêu mục tiêu cụ thể đến năm 2030 về doanh nghiệp nhà nước như sau: “Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD”.

- Nhiệm vụ, giải pháp đối với DNNN có giải pháp: Tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế như: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; nhóm giải pháp “Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp” với các nhiệm vụ cụ thể về xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chức danh quản lý trong hệ thống quản trị của DNNN, bảo đảm trách nhiệm đi đôi với quyền hạn; cơ chế giám sát hoạt động, trách nhiệm giải trình, tăng cường phân công, phân cấp; thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ có hiệu quả; đánh giá hiệu quả DNNN theo nguyên tắc đánh giá tổng thể, tách bạch nhiệm vụ SXKD và nhiệm vụ chính trị; đổi mới hoàn thiện mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu, mô hình HĐTV bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp; nhóm giải pháp “Tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước” với các nhiệm vụ cụ thể về cơ cấu lại DNNN một cách thực chất, hiệu quả, giảm đầu mối, tăng quy mô; tiếp tục thực hiện lộ trình CPH để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, việc CPH phải bảo đảm không ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược.

Về tổ chức thực hiện, Nghị quyết số 79-NQ/TW giao Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp phục vụ triển khai thực hiện Nghị quyết; Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động.

3.2. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ EVN lần thứ IV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (Nghị quyết số 01-NQ/ĐU ngày 20/8/2025) đã đề ra:

- Mục tiêu tổng quát, trong đó có “Quản trị doanh nghiệp minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, đây cũng là 1 trong 3 khâu đột phá của nhiệm kỳ 2025-2030;

- 04 mục tiêu cụ thể, trong đó có “Xây dựng EVN trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh, có nền tảng quản trị hiện đại, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước”;

- Các giải pháp chủ yếu về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong đó có giải pháp “Quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tập trung hoàn thiện thể chế quản lý nội bộ, phân cấp, phân quyền tối đa, triệt để”.

3.3. Đảng ủy EVN đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/ĐU ngày 30/12/2025 về nhiệm vụ công tác năm 2026, trong đó có nhiệm vụ, giải pháp về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả với các nhiệm vụ cụ thể.

4. Định hướng của EVN về quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả gắn với sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp và cổ phần hóa

4.1. Định hướng về cơ cấu lại EVN giai đoạn 2026-2030 và tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong nội bộ các đơn vị

Sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp có vai trò quan trọng, là tiền đề để áp dụng mô hình quản trị hiện đại cho EVN. Trong giai đoạn 2026-2030, việc sắp xếp, cơ cấu lại EVN dựa trên cơ sở pháp lý chính như sau:

- Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Việc sắp xếp, cơ cấu lại EVN cần gắn với định hướng xây dựng và phát triển EVN trở thành tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, quy mô lớn, có vai trò chủ chốt trong đảm bảo an ninh cung cấp điện quốc gia, đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; có nền quản trị hiện đại (hướng đến áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD), tiên phong, dẫn dắt trong ngành điện; phấn đấu vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới đến năm 2030.

- Nghị quyết số 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; trong đó EVN có nhiệm vụ xây dựng Đề án tái cấu trúc EVN phù hợp với thị trường điện cạnh tranh, báo cáo Bộ Tài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2026. Hiện nay, Bộ Công Thương đang rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về lộ trình, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu ngành điện và các điều kiện để hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam (thay thế Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg), việc cơ cấu lại EVN và các đơn vị thành viên EVN tham gia thị trường điện cần phù hợp với cơ cấu ngành điện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Theo Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, khoản 3 Điều 6 quy định Nhà nước đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên, trong đó có lĩnh vực hoạt động của EVN: “Truyền tải, quản lý lưới điện phân phối, xây dựng và vận hành dự án nhà máy điện hạt nhân, nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về điện lực”. Trên cơ sở quy định tại dự thảo Nghị định về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, hiện nay Bộ Tài chính đang tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện Quyết định số 22/2021/QĐ-TTg và xây dựng dự thảo Quyết định về tiêu chí phân loại DNNN, doanh nghiệp có vốn nhà nước giai đoạn tới (thay thế Quyết định số 22/2021/QĐ-TTg), trình Thủ tướng Chính phủ thời gian tới; đây là cơ sở để EVN đề xuất nội dung cơ cấu lại vốn nhà nước tại EVN giai đoạn 2026-2030 và nội dung cơ cấu lại vốn của EVN tại các doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030.

Một số định hướng chính về sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại EVN giai đoạn 2026-2030 như sau:

a) Công ty mẹ-EVN tiếp tục là công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

EVN tiếp tục nắm giữ các đơn vị trực thuộc: (i) các Công ty/Nhà máy điện trực thuộc (gồm các Công ty Thủy điện Hòa Bình, Ialy, Trị An, Tuyên Quang, Sơn La, Huội Quảng - Bản Chát, PTTĐ Sê San; Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch; NMTĐ tích năng Bác Ái sau khi vào vận hành); (ii) Công ty Mua bán điện; (iii) 03 Ban QLDA Điện 1, 2, 3 và Ban QLDA ĐHN Ninh Thuận; (iv) 02 đơn vị dịch vụ ngành điện (EVNICT và EVNEIC).

b) Đối với CTNĐ Thái Bình và NMNĐ Vĩnh Tân 4: dự kiến thành lập 02 Công ty TNHH MTV NĐ Thái Bình và NĐ Vĩnh Tân 4 vào thời điểm 2028-2029 khi 02 đơn vị này có lãi. [3] 

c) Công ty TNHH MTV NĐ Thủ Đức tiếp tục là công ty TNHH MTV do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ.

d) Các EVNGENCO:

EVNGENCO1, 2, 3 là các công ty hạch toán độc lập, đã tham gia vào thị trường điện một cách đầy đủ, độc lập, không có chung lợi ích với NSMO. EVN tiếp tục nắm giữ vốn chi phối tại 03 EVNGENCO; trong đó:

- Đối với EVNGENCO1: tiếp nhận NMNĐ Duyên Hải 3 MR từ EVN; tuỳ vào quy định tiêu chí phân loại DNNN của Thủ tướng CP, nghiên cứu phương án có thể CPH, EVN giữ chi phối ít nhất 65% vốn điều lệ, đảm bảo quyền chi phối, quyết định các vấn đề quan trọng tại EVNGENCO1.

- Đối với EVNGENCO2, 3: trên cơ sở tiêu chí phân loại DNNN, xem xét giảm tỷ lệ vốn góp của EVN tại EVNGENCO2, 3 (đối với EVNGENCO3 thông qua hình thức chào bán cổ phần để tăng vốn điều lệ để đáp ứng nhu cầu đầu tư của EVNGENCO3 giai đoạn 2026-2030), xuống mức EVN nắm giữ ít nhất 65% vốn điều lệ tại EVNGENCO2, 3, đảm bảo quyền chi phối, quyết định các vấn đề quan trọng tại các CTCP

e) Khối truyền tải điện (EVNNPT)

Hiện nay, NSMO đã được tách về Bộ Công Thương, mô hình EVNNPT thuộc EVN không có xung đột về lợi ích với các bên mua điện và bán điện, không có sự phân biệt đối xử giữa các nhà máy điện của EVN và nhà máy điện của các chủ đầu tư khác, bao gồm cả việc đấu nối nhà máy điện vào hệ thống điện quốc gia; đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng giữa các bên tham gia thị trường điện cạnh tranh, kể cả giai đoạn thị trường bán lẻ điện cạnh tranh trong thời gian tới. Do vậy, EVN tiếp tục nắm giữ 100% vốn tại EVNNPT như hiện nay.

f) Khối phân phối và kinh doanh bán lẻ (05 TCTĐL)

Các TCTĐL hiện đang thực hiện cả 02 chức năng: quản lý lưới điện phân phối và kinh doanh bán lẻ điện. Lĩnh vực quản lý lưới điện là lĩnh vực độc quyền tự nhiên và Nhà nước đầu tư vốn và nắm giữ 100% vốn điều lệ tại doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này theo Nghị định số 366/2025/NĐ-CP, EVN tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ tại 05 TCTĐL.

Theo quy định về lộ trình và cơ cấu ngành điện thực hiện thị trường bán lẻ điện tại Việt Nam, xem xét thực hiện tách bạch chức năng phân phối và chức năng bán lẻ điện trong 05 TCTĐL, để tính toán đầy đủ, chính xác giá phân phối điện (Bộ Công Thương phê duyệt), là cơ sở cho các đơn vị tham gia thị trường điện sử dụng dịch vụ phân phối điện và trả chi phí cho các TCTĐL; bộ phận bán lẻ điện của 05 TCTĐL thực hiện chức năng của đơn vị bán lẻ điện mặc định, cạnh tranh với các đơn vị bán lẻ điện khác để bán điện cho khách hàng tham gia thị trường bán lẻ điện.

g) Khối tư vấn xây dựng điện và cơ khí, chế tạo thiết bị điện

- EVN tiếp tục nắm giữ vốn tại các công ty tư vấn, trong đó xây dựng, phát triển 01 công ty tư vấn có khả năng làm tổng thầu EPC các dự án năng lượng có quy mô lớn, hiện đại theo chủ trương tại Nghị quyết số 70-NQ/TW, đồng thời xem xét số lượng và tỷ lệ sở hữu chi phối phù hợp tại các công ty tư vấn còn lại.

- EVN tiếp tục duy trì tỷ lệ nắm vốn tại EEMC như hiện nay.

h) Đối với CTCP Năng lượng Vĩnh Tân 3: nghiên cứu cơ cấu lại phần vốn góp của EVN tại VTEC.

i) Cùng với việc sắp xếp, cơ cấu lại về tổ chức và sở hữu, tiếp tục thực hiện sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy trong nội bộ các đơn vị thành viên, nhằm tối ưu số lượng các ban/phòng chuyên môn, tối ưu số lượng, phạm vi quản lý các đội/tổ và các nội dung sắp xếp khác nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của các đơn vị.

4.2. Ý nghĩa của “minh bạch”, “hiệu năng”, “hiệu lực”, “hiệu quả” trong quản trị doanh nghiệp tại EVN

a) Minh bạch: là việc mọi quy định, quy trình, quyết định, kết quả SXKD của EVN, đơn vị được công khai thông tin theo đúng quy định; phân cấp, phân quyền rõ ràng; môi trường làm việc công bằng cho người lao động (tuyển dụng, bố trí công việc, đánh giá kết quả công việc, lương, thưởng, thăng tiến,…); đây là yếu tố quan trọng để EVN tạo dựng niềm tin với Đảng, Nhà nước, khách hàng, đối tác và cộng đồng xã hội, tạo sự đồng thuận trong xã hội; giúp EVN xây dựng nền tảng kinh doanh tin cậy, đoàn kết nội bộ được củng cố, môi trường làm việc trở nên tin cậy.

b) Hiệu năng: là việc thiết lập hệ thống quản lý để mọi đơn vị, bộ phận, cá nhân trong EVN thực hiện tốt nhất nhiệm vụ, công việc được giao; điều này có ý nghĩa quan trọng, thể hiện năng lực cạnh tranh của EVN, giúp EVN phát triển bền vững.

c) Hiệu lực: là việc các cấp quản lý/người lao động trong Tập đoàn ra các quyết định/thực hiện công việc theo đúng các quy định, chủ trương, chỉ đạo, điều hành của cấp trên, đảm bảo thời gian và hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được giao; điều này giúp đảm bảo chiến lược, kế hoạch SXKD của EVN và các đơn vị được thực thi tốt, hoàn thành mục tiêu đề ra.

d) Hiệu quả: là việc quản lý, điều hành EVN và đơn vị để tạo ra kết quả SXKD ở mức cao nhất với nguồn lực xác định; điều này có ý nghĩa quan trọng, giúp EVN ngày càng phát triển, mở rộng quy mô, bảo toàn và phát triển vốn.

4.3. Nội dung định hướng về quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả

4.3.1. Về tham gia góp ý hoàn thiện thể chế quản lý đối với DNNN

- Chủ động nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, các Bộ, ngành hoàn thiện thể chế quản lý, cơ chế, chính sách với DNNN theo hướng tăng phân cấp, phân quyền, gắn với chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế.

- Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các nội dung phù hợp, bám sát và kịp thời giải trình để Bộ Tài chính hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính đặc thù đối với EVN.

- Chủ động nghiên cứu Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật số 68) và các Nghị định quy định chi tiết để kịp thời báo cáo, xin ý kiến Bộ, ngành về các tồn tại, vướng mắc (nếu có).

4.3.2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và hệ thống QCNB của Tập đoàn và các đơn vị theo Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp

- Rà soát, cập nhật, hoàn thiện Điều lệ tổ chức và hoạt động của EVN theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật số 68 và các quy định pháp luật liên quan; báo cáo Bộ Tài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận nội dung Điều lệ EVN để HĐTV EVN quyết định ban hành Điều lệ theo quy định tại Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

- Khẩn trương rà soát, cập nhật các quy chế nội bộ của EVN để trình HĐTV ban hành theo Luật số 68 và các Nghị định hướng dẫn; [4] trong đó sửa đổi, bổ sung Quy chế phân cấp, tách nội dung thẩm quyền của HĐTV/ Chủ tịch công ty TNHH MTV cấp II và Người đại diện vốn tại các công ty cổ phần để xây dựng Quy chế hoạt động của người đại diện phần vốn của EVN.

- Việc rà soát, sửa đổi và ban hành Quy chế phân cấp, hệ thống quy chế nội bộ của EVN và các đơn vị được thực hiện theo hướng:

+ Bám sát việc thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 phát triển kinh tế nhà nước, trong đó tập trung vào nội dung tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp (“Hoàn thiện quy định xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chức danh quản lý trong hệ thống quản trị của doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm trách nhiệm đi đôi với quyền hạn; cơ chế giám sát hoạt động, trách nhiệm giải trình của người đại diện phần vốn nhà nước, các chức danh quản lý tại doanh nghiệp gắn với việc nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện, tăng cường phân công, phân cấp”).

+ Đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan (bao gồm cả nội dung về tuân thủ tên gọi và nội dung các quy chế nội bộ có quy định cụ thể trong Luật 68 và các Nghị định quy định chi tiết Luật 68; rà soát điều chỉnh các quy định có liên quan đến quản lý công ty con theo đúng quy định tại Luật 68 và pháp luật khác có liên quan).

+ Đảm bảo các quy chế nội bộ tinh gọn, không quy định lại các nội dung đã có trong các văn bản pháp luật, chỉ quy định các nội dung mang tính quy phạm, lưu đồ hóa tối đa các nội dung mang tính quy trình, nghiệp vụ.

+ Tiếp tục tăng cường phân cấp, phân quyền, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện, kết hợp với cơ chế kiểm tra, giám sát tại các đơn vị thành viên của EVN.

+ Chuẩn hóa quy trình công việc theo hướng đơn giản, minh bạch; xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức và cá nhân trong quy trình xử lý công việc; giảm thiểu các bước trong quy trình xử lý công việc, cắt giảm tối đa thủ tục nội bộ; loại bỏ các bước, các thủ tục không cần thiết, không tạo ra giá trị.

4.3.3. Tăng cường công tác kiểm soát nội bộ, giám sát tài chính

Định hướng tăng cường công tác kiểm toán nội bộ, giám sát tài chính của EVN theo các nội dung chính sau đây:

- Về thể chế: hoàn thiện quy chế, quy trình về kiểm toán nội bộ, giám sát tài chính, kiểm soát tuân thủ, quản trị rủi ro theo các quy định pháp luật hiện hành, theo yêu cầu của EVN, phù hợp với chuẩn mực kiểm toán nội bộ quốc tế và các thông lệ quản trị doanh nghiệp hiện đại.

- Về nhân sự: tăng cường số lượng nhân sự chuyên sâu theo các lĩnh vực hoạt động SXKD chính của EVN, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nhân sự làm công tác kiểm toán, giám sát, quản trị rủi ro.

- Về hoạt động: đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin tối ưu hóa hoạt động kiểm toán, giám sát, quản trị rủi ro.

4.3.4. Thực hiện công khai thông tin về hoạt động của EVN và đơn vị, và thực hiện trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp

- Thực hiện công khai thông tin về hoạt động SXKD của EVN và đơn vị đầy đủ, chính xác và kịp thời theo đúng quy định của pháp luật.

- Thực hiện công khai thông tin về quy trình, quy định, chỉ đạo điều hành, số liệu và kết quả công việc trong EVN và đơn vị.

- Thực hiện trách nhiệm giải trình của EVN và các đơn vị trong Tập đoàn, đảm bảo:

+ Quy định rõ trách nhiệm giải trình ở từng cấp, từng vị trí.

+ Mỗi thẩm quyền được giao cần đi kèm với trách nhiệm cụ thể về kết quả và hiệu quả.

+ Trách nhiệm giải trình không chỉ dừng ở việc tuân thủ quy định, mà phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

+ Trách nhiệm giải trình của người đứng đầu đơn vị gắn với kết quả SXKD, hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của đơn vị.

+ Tăng cường giải trình nội bộ giữa các cấp trong Tập đoàn.

+ Có chế tài gắn kết quả giải trình với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân.

4.3.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thực hiện hiệu quả cơ chế chính sách đãi ngộ

- Xây dựng tiêu chí và thang điểm đánh giá cán bộ công bằng, minh bạch, khách quan, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao làm thước đo chính, chủ yếu.

- Xây dựng quy hoạch, chú trọng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao; đẩy mạnh luân chuyển để đào tạo cán bộ quy hoạch, tập trung phát triển năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thông qua thực hiện nhiệm vụ quan trọng/dự án lớn.

- Xây dựng, thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, chế độ đãi ngộ (về tiền lương, thu nhập,...) đối với nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Xây dựng môi trường làm việc đảm bảo công bằng và minh bạch trong tuyển dụng, bố trí công việc, đánh giá kết quả công việc và các vấn đề liên quan quyền lợi, chính sách đãi ngộ cho người lao động.

- Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, trao đổi chuyên gia, hợp tác quốc tế về đào tạo; ứng dụng khoa học, công nghệ mới trong đào tạo, thúc đẩy văn hóa học hỏi chủ động trong toàn Tập đoàn.

4.3.6. Thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số

Trong bối cảnh kỷ nguyên số đang làm thay đổi toàn diện phương thức lao động và sản xuất, việc xây dựng và thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số là xu thế tất yếu, khách quan để đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nhận thức rõ điều này, EVN đã triển khai thực hiện chuyển đổi số trên tất cả các lĩnh vực hoạt động từ năm 2021.

Trên cơ sở bám sát 05 quan điểm chỉ đạo, các mục tiêu của Bộ Chính trị đề ra trong Nghị quyết số 57-NQ/TW, giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được nêu tại Nghị quyết 57, tại Chương trình hành động số 40-CTr/ĐU của Đảng ủy EVN đã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2030: “Xây dựng và phát triển EVN thông minh, bền vững trên cơ sở chuyển đổi số toàn diện, phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, ứng dụng sâu rộng các công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, IoT, điện toán đám mây…v.v. trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN”. Theo đó, EVN cần định hình và xây dựng bộ máy quản trị thông minh, nhân lực quản trị thông minh, phương thức quản trị thông minh và giám sát thông minh,... trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn dữ liệu cung cấp từ các thiết bị thông minh đến các giải pháp quản lý thông minh hỗ trợ cho các quyết định từ đầu tư, kế hoạch đầu tư, sản xuất hàng năm đến điều hành sản xuất hàng ngày cần phải dựa trên phân tích dữ liệu, đảm bảo tính khách quan, chính xác và giảm thiểu rủi ro.

Vì vậy, EVN đã đưa ra định hướng triển khai “Thiết lập các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và trung tâm dữ liệu ngành điện, là cơ sở cung cấp cho các nền tảng trí tuệ nhân tạo sử dụng trong các bài toán phân tích, tính toán tối ưu vận hành nhà máy điện, lưới điện truyền tải, phân phối hiệu quả”. EVN đã và đang từng bước triển khai:

- Ứng dụng tối đa công nghệ thông minh để tối ưu hóa chuỗi giá trị từ sản xuất, truyền tải, phân phối đến dịch vụ khách hàng;

- Xác định dữ liệu làm trụ cột chính đáp ứng quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số, EVN đã giao nhiệm vụ các đơn vị tập trung xây dựng các kho dữ liệu chuyên ngành đảm bảo: “Đúng-Đủ-Sạch-Sống-Thống nhất- Dùng  chung” trong các lĩnh vực hoạt động của EVN;

- Tập trung nguồn lực nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ then chốt (AI, Big Data, tự động hóa) vào các khâu trọng yếu: Sản xuất, Truyền tải, Phân phối và Kinh doanh;

- Xây dựng  nền tảng số thống nhất (Digital Platform) như triển khai đồng bộ hệ thống quản trị thống nhất để số hóa toàn bộ hoạt động cốt lõi;

- Yếu tố con người cũng đóng một vai trò quan trọng trong khai thác dữ liệu và phân tích dữ liệu từ hệ thống cung cấp, EVN đã tổ chức các khóa đào tạo phân tích dữ liệu chuyên sâu cho các cán bộ nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ cho các đối tượng này.

4.3.7. Định hướng áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD

Hiện nay có một số tổ chức và định chế quốc tế lớn có nhiều tài liệu hướng dẫn về quản trị doanh nghiệp nói chung, quản trị DNNN nói riêng như: Ngân hàng Thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Về phạm vi và mức độ phổ biến, nội dung Hướng dẫn quản trị công ty trong các DNNN (Hướng dẫn quản trị DNNN) của OECD có tính toàn diện hơn so với các tổ chức và định chế khác, đồng thời, nhận được sự thống nhất ý kiến không chỉ của EU mà còn của các nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới như Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc,... Các tổ chức quốc tế như WB, IMF cũng sử dụng Hướng dẫn quản trị DNNN của OECD làm cơ sở để xây dựng các báo cáo đánh giá và tư vấn chính sách cải cách DNNN cho các quốc gia đối tác của mình. OECD đã nhiều lần ban hành Hướng dẫn quản trị DNNN, trong đó Hướng dẫn năm 2015 được sử dụng đến năm 2024 khi OECD công bố bản sửa đổi vào tháng 5/2024.

Bản Hướng dẫn quản trị DNNN của OECD năm 2015 gồm 39 nguyên tắc cụ thể được tập hợp trong 07 nhóm nội dung cơ bản của quản trị DNNN là: (1) Mục tiêu đầu tư vốn nhà nước vào DNNN; (2) Thực hiện vai trò chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN; (3) Đảm bảo cho DNNN hoạt động cạnh tranh, bình đẳng; (4) Bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số tại các DNNN đa sở hữu; (5) Bảo đảm quyền của các bên lợi ích liên quan của DNNN; (6) Công bố thông tin và tính minh bạch của DNNN; (7) Hoạt động của Hội đồng quản trị (hoặc cơ quan quản lý tương đương của DNNN).

Năm 2020, khi nghiên cứu xây dựng Đề án “Áp dụng quản trị hiện đại đối với các doanh nghiệp nhà nước; minh bạch hóa hoạt động đầu tư kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đã đánh giá Việt Nam đã áp dụng toàn bộ 39 nguyên tắc tại Bản hướng dẫn quản trị DNNN năm 2015 của OECD, trong đó: áp dụng đầy đủ 03/39 nguyên tắc, áp dụng tương đối đầy đủ 25/39 nguyên tắc và áp dụng một phần 11/39 nguyên tắc (cụ thể tại Phụ lục kèm theo).

Đến Bản hướng dẫn quản trị DNNN của OECD sửa đổi năm 2024 (được rà soát, tham vấn từ năm 2023 và để đồng bộ với tài liệu G20/OECD Principles 2023); OECD đã tập trung vào việc tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu quả hoạt động của DNNN, trong đó thêm nội dung về DNNN phải dẫn dắt về phát triển bền vững, quản trị rủi ro khí hậu, trách nhiệm xã hội, liêm chính.

Như vậy, mục tiêu về thực hiện quản trị doanh nghiệp minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của EVN cũng chính là các nội dung cốt lõi của Hướng dẫn quản trị DNNN của OECD. Trên cơ sở Bản hướng dẫn quản trị DNNN của OECD sửa đổi năm 2024, EVN sẽ nghiên cứu, rà soát để xây dựng lộ trình và các giải pháp về thực hiện quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, bám sát các nguyên tắc theo Hướng dẫn của OECD, đảm bảo thực hiện được mục tiêu tại Nghị quyết số 79-NQ/TW là đến năm 2030, EVN thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại, áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

5. Tổ chức thực hiện

5.1. EVN và các đơn vị thành viên thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, cơ cấu lại doanh nghiệp theo đề án được duyệt.

5.2. EVN, các đơn vị thành viên xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa nội dung để triển khai các nội dung về quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 22-NQ/ĐU ngày 30/12/2025 của Đảng ủy EVN về nhiệm vụ công tác năm 2026.

5.3. EVN nghiên cứu xây dựng lộ trình và các giải pháp về thực hiện quản trị doanh nghiệp minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, bám sát các nguyên tắc theo Hướng dẫn của OECD; tổ chức triển khai trong toàn Tập đoàn; định kỳ hàng năm đánh giá, rà soát, hiệu chỉnh phù hợp với thực tiễn.

PHỤ LỤC: Rà soát, đánh giá mức độ áp dụng các nguyên tắc quản trị DNNN của OECD 2025 tại Việt Nam (theo đánh giá của Bộ KH&ĐT năm 2020) tại đây.

 

1] Các Tờ trình: số 284/TTr-EVN ngày 12/01/2025, số 1478/TTr-EVN ngày 07/3/2025, số 2545/TTr-EVN ngày 19/4/2025.

[2] Các Công văn: số 2706/EVN-PC ngày 26/4/2025, số 3073/EVN-PC ngày 16/5/2025.

[3] Nội dung này EVN đã báo cáo Bộ Tài chính tại Công văn số 4793/EVN-TCNS ngày 23/7/2025 và Công văn số 6353/EVN-TCNS ngày 03/10/2025.

[4] TGĐ đã có Báo cáo 5656/BC-EVN gửi HĐTV EVN về tiến độ xây dựng, trình ban hành quy chế nội bộ thuộc thẩm quyền HĐTV, theo đó thống kê 14 Quy chế nội bộ thuộc thẩm quyền ban hành của HĐTV đảm bảo phù hợp với Luật số 68.

Tải tài liệu chuyên đề tại đây.


Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hương – Chủ tịch Công đoàn Công ty phát biểu phát động phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân 2026.

Lễ phát động được tổ chức tại khuôn viên Nhà máy với sự tham gia của Ban Giám đốc Công ty, Ban Chấp hành Đảng bộ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên cùng lãnh đạo các phòng, phân xưởng và đại diện người lao động. Đây không chỉ là hoạt động mang ý nghĩa truyền thống mỗi dịp đầu Xuân mà còn thể hiện trách nhiệm của Công ty trong việc bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững.


Đồng chí Đỗ Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty phát biểu tại lễ phát động.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Đỗ Trung Kiên – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty nhấn mạnh phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” là hoạt động thiết thực nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong toàn thể cán bộ, công nhân viên lao động. Việc trồng và chăm sóc cây xanh trong khuôn viên Nhà máy không chỉ góp phần cải thiện cảnh quan, môi trường làm việc mà còn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp ngành điện đối với mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Giám đốc Công ty cũng kêu gọi toàn thể cán bộ, công nhân viên tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh; qua đó xây dựng môi trường làm việc xanh, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất điện an toàn, ổn định và hiệu quả trong năm 2026.

Trong những năm qua, cùng với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, công tác bảo vệ môi trường luôn được lãnh đạo và tập thể người lao động Công ty quan tâm triển khai. Giai đoạn 2021 – 2025, Công ty đã trồng mới trên 20.687 cây xanh và cây hoa các loại, góp phần cải thiện môi trường sinh thái và tạo cảnh quan trong khuôn viên nhà máy.

Trong đợt phát động năm nay, Công ty lựa chọn trồng các loại cây bóng mát và cây cảnh quan phù hợp với điều kiện môi trường công nghiệp, có khả năng chịu hạn tốt, ít rụng lá và bảo đảm không ảnh hưởng đến nền móng công trình.


Đồng chí Đỗ Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty cùng cán bộ, công nhân trồng cây trong khuôn viên Công ty Nhiệt điện Uông Bí

Phong trào “Tết trồng cây” tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí không chỉ góp phần cải thiện môi trường khu vực sản xuất, nâng cao điều kiện làm việc cho người lao động mà còn lan tỏa ý thức gìn giữ môi trường trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Đồng thời, đây cũng là hoạt động hưởng ứng phong trào thi đua đầu Xuân, tạo khí thế phấn khởi để cán bộ, công nhân viên nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ sản xuất điện trong năm 2026.


Quang cảnh buổi lễ phát động Tết trồng cây

Sau lễ phát động, các phòng, phân xưởng sẽ được phân công chăm sóc cây xanh tại từng khu vực cụ thể; việc quản lý, chăm sóc và bảo vệ cây được lồng ghép với tiêu chí xây dựng môi trường “Xanh – Sạch – Đẹp” trong đánh giá thi đua hằng năm của Công ty.

Thông qua hoạt động ý nghĩa này, Công ty Nhiệt điện Uông Bí tiếp tục khẳng định cam kết gắn phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường, chung tay xây dựng môi trường làm việc xanh và bền vững, góp phần lan tỏa nét đẹp văn hóa doanh nghiệp trong Tổng công ty Phát điện 1.

Một số hình ảnh trồng cây ngay sau Lễ phát động của CBCNV Công ty:


 

 


Ông Trịnh Đức Duy – Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than- Bộ Công thương chủ trì buổi làm việc

Tham gia buổi làm việc có đại diện lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO), Công ty Kho vận Đá Bạc.
Về phía Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) có ông Ngô Sinh Nghĩa – Phó Tổng giám đốc, cùng đại diện các Ban chuyên môn của Tổng công ty.
Phía Công ty Nhiệt điện Uông Bí có ông Nguyễn Hồng Quân – Phó Giám đốc Công ty và lãnh đạo các đơn vị chuyên môn.


Ông Ngô Sinh Nghĩa – Phó Tổng giám đốc EVNGENCO1 báo cáo công tác rà soát chuẩn bị nguồn than cho sản xuất điện năm 2026

Tại buổi làm việc, ông Ngô Sinh Nghĩa – Phó Tổng giám đốc EVNGENCO1 đã báo cáo tổng thể công tác chuẩn bị nguồn than phục vụ sản xuất điện năm 2026 của các nhà máy nhiệt điện thuộc Tổng công ty. Theo đó, thực hiện các quyết định của Bộ Công Thương về phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia và biểu đồ cấp than năm 2026, EVNGENCO1 đã hoàn thành ký kết các hợp đồng mua bán than với các đơn vị cung cấp nhằm đảm bảo nhiên liệu cho vận hành các nhà máy nhiệt điện. Tổng khối lượng than mua cho các nhà máy nhiệt điện của EVNGENCO1 trong năm 2026 dự kiến khoảng 11,35 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu sản xuất điện theo kế hoạch vận hành hệ thống điện quốc gia.

Riêng đối với Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí, EVNGENCO1 đã ký hợp đồng mua than trong nước với TKV với khối lượng khoảng 1,95 triệu tấn than cám 5b.10, phù hợp với thông số kỹ thuật của lò hơi và đảm bảo yêu cầu vận hành ổn định của nhà máy.

Báo cáo tại buổi làm việc, ông Nguyễn Hồng Quân – Phó Giám đốc Công ty Nhiệt điện Uông Bí cho biết Công ty đã chủ động triển khai các giải pháp đảm bảo nguồn nhiên liệu cho sản xuất điện theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và EVNGENCO1. Trong đó, Công ty đã phối hợp chặt chẽ với TKV trong việc xây dựng kế hoạch cung cấp than theo từng tháng, từng quý; đồng thời duy trì lượng than tồn kho theo định mức quy định nhằm đảm bảo nguồn nhiên liệu liên tục cho vận hành các tổ máy, đặc biệt trong các tháng cao điểm mùa khô năm 2026.

Song song với công tác đảm bảo nguồn nhiên liệu, Công ty Nhiệt điện Uông Bí đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng và nâng cấp các hệ thống thiết bị phục vụ tiếp nhận và quản lý than như hệ thống băng tải, cân băng tải, hệ thống lấy mẫu tự động, máy đánh phá đống và các kho than mái che kín. Các thiết bị được kiểm định, hiệu chỉnh định kỳ và thực hiện giám định độc lập trong công tác giao nhận than nhằm đảm bảo tính chính xác, minh bạch và chất lượng than phục vụ sản xuất điện.

Công ty cũng triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình tiếp nhận và lưu trữ than, như vận hành hệ thống thu gom và xử lý nước nhiễm than, vệ sinh tuyến đường vận chuyển, duy trì hoạt động ổn định của hệ thống kho than kín và hệ thống phòng cháy chữa cháy theo đúng quy định.

Tại buổi làm việc, các bên đã cùng thảo luận các ý kiến đề xuất và rà soát các phương án cung cấp, vận chuyển và dự trữ than nhằm đảm bảo nguồn nhiên liệu ổn định, liên tục phục vụ sản xuất điện trong năm 2026.


Ông Trịnh Đức Duy – Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than, Bộ Công Thương phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Trịnh Đức Duy – Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than - Bộ Công Thương đánh giá cao sự chủ động của EVNGENCO1 và Công ty Nhiệt điện Uông Bí trong việc chuẩn bị nguồn nhiên liệu, xây dựng kế hoạch vận hành cũng như triển khai các giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định cho hệ thống điện quốc gia. Đồng thời, ông đề nghị EVNGENCO1 và Công ty Nhiệt điện Uông Bí tiếp tục rà soát, bổ sung các phương án cụ thể để chủ động ứng phó với rủi ro gián đoạn nguồn cung nhiên liệu nhập khẩu trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn có thể đẩy giá nhiên liệu tăng cao, bảo đảm trong mọi tình huống không để thiếu nhiên liệu cho sản xuất điện.

Trong thời gian tới, Công ty Nhiệt điện Uông Bí sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với TKV và các đơn vị liên quan để đảm bảo nguồn than cung cấp ổn định, nâng cao hiệu quả vận hành các tổ máy và góp phần hoàn thành nhiệm vụ cung ứng điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Trong khuôn khổ chương trình công tác, Đoàn công tác đã kiểm tra kho than và phòng điều khiển trung tâm Công ty Nhiệt điện Uông Bí.

Phát huy hiệu ứng lan tỏa của Chiến dịch Giờ Trái đất, Bộ Công Thương tổ chức phong trào "Toàn dân sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất năm 2026" vào ngày 07 tháng 3 năm 2026 với thông điệp "Sáng tạo xanh - Tương lai xanh" nhằm kêu gọi các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân cả nước tăng cường thực hành sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; chủ động áp dụng các giải pháp công nghệ, đổi mới phương thức sản xuất và tiêu dùng, từng bước hình thành lối sống sử dụng năng lượng hợp lý, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương tại văn bản số 890/BCT-ĐCK ngày 10/02/2026 về việc phối hợp tuyên truyền hoạt động hưởng ứng phong trào "Toàn dân sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất năm 2026", Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) yêu cầu các đơn vị phối hợp tuyên truyền, phổ biến và vận động người lao động và khách hàng đồng hành nâng cao ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và hưởng ứng Giờ Trái đất năm 2026.

Bên cạnh đó, vận động, khuyến khích cán bộ, công nhân viên, đoàn viên thanh niên tham gia “Lễ phát động toàn dân sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả” và “Giải chạy trực tiếp hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất năm 2026” tại địa phương được tổ chức ngày 07 tháng 3 năm 2026. 

Phát động toàn bộ cán bộ, nhân viên, đoàn viên thanh niên tham gia giải chạy hưởng ứng Giờ Trái đất năm 2026 theo hình thức trực tuyến được tổ chức từ ngày 07 đến ngày 31 tháng 3 năm 2026 nhằm lan tỏa thông điệp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả gắn với lối sống năng động, hiện đại (đăng ký tham gia tại nền tảng 84RACE)

Phát động toàn bộ cán bộ nhân viên, khách hàng tham gia Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu kiến thức sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả, thời gian diễn ra từ ngày 07 đến ngày 28 tháng 3 năm 2026, tại địa chỉ https://tietkiemnangluong.com.vn/; vận động các tổ chức, cơ quan, khách hàng thực hiện tắt đèn và các thiết bị điện không cần thiết trong thời gian diễn ra Sự kiện Tắt đèn hưởng ứng Giờ Trái đất năm 2026 từ 20 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút, Thứ Bảy, ngày 28 tháng 3 năm 2026; tuyên truyền, phổ biến, kêu gọi người lao động, khách hàng đồng hành cùng Chính phủ thực hành tiết kiệm năng lượng và hưởng ứng Giờ Trái đất năm 2026 tại các địa điểm giao dịch khách hàng, trụ sở của các đơn vị điện lực trong tháng 3 năm 2026.


Toàn cảnh hội nghị.

Thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Hội nghị tại EVNGENCO1 được tổ chức trực tuyến từ hội trường Tổng công ty đến các điểm cầu tại các đơn vị trực thuộc, tiếp sóng trực tiếp Hội nghị toàn quốc do Trung ương tổ chức, phát trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam.

Tại điểm cầu Tổng công ty, Hội nghị do đồng chí Nguyễn Tiến Khoa - Bí thư Đảng ủy EVNGENCO1, Chủ tịch HĐTV chủ trì, với sự tham dự của đồng chí Lê Hải Đăng, Phó Bí thư Đảng ủy, Thành viên HĐTV, Tổng giám đốc EVNGENCO1, các ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội đồng thành viên, Ban Tổng giám đốc, Bí thư các Chi bộ, các tổ chức đoàn thể khối cơ quan Tổng công ty. Tại các đơn vị trực thuộc do Bí thư các đảng bộ bộ phận, chi bộ chủ trì, bảo đảm các thành phần tham dự theo đúng yêu cầu, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong việc sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống.


Đ/c Nguyễn Tiến Khoa, Bí thư Đảng ủy EVNGENCO1 và Đ/c Lê Hải Đăng, Phó Bí thư Đảng ủy (ngồi bàn đầu tiên) và các đảng viên tham gia tại Hội nghị.

Trong suốt một ngày làm việc (từ 7h30 đến 17h), các đại biểu được nghiên cứu, học tập 10 chuyên đề quan trọng, bao quát toàn diện những nội dung cốt lõi, điểm mới, tư duy mới của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cụ thể: 

Chuyên đề 1: "Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng" do đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương truyền đạt.

Chuyên đề 2: "Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng" do đồng chí Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ truyền đạt.

Chuyên đề 3: "Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025); phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV" do đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương truyền đạt.

Chuyên đề 4: "Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030" do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách Chiến lược Trung ương truyền đạt.

Chuyên đề 5: "Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong Kỷ nguyên mới" do đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam truyền đạt.

Chuyên đề 6: "Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đại hội XIV" do đồng chí Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng truyền đạt.

Chuyên đề 7: "Tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia của Đại hội XIV" do đồng chí Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an truyền đạt.

Chuyên đề 8: "Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước" do đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao truyền đạt.

Chuyên đề 9: "Đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng, lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội" do đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt.

Chuyên đề 10: "Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV" do đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương truyền đạt.

Các chuyên đề tập trung làm rõ kết quả và kinh nghiệm 40 năm đổi mới; đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021–2030; phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2030; công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng những nhận thức mới về quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong kỷ nguyên mới.

Đặc biệt, hội nghị được nghe phát biểu chỉ đạo quan trọng của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, định hướng rõ yêu cầu chuyển mạnh từ “học tập, quán triệt” sang “hành động, tổ chức thực hiện” Nghị quyết một cách thực chất, hiệu quả.

Với tinh thần nghiêm túc, chủ động và trách nhiệm, hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tại EVNGENCO1 là bước khởi đầu quan trọng, tạo nền tảng để Tổng công ty cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, góp phần bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. 


Đoàn công tác EVNGENCO1 trao quà cho cán bộ, công nhân viên, người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí.

Tại buổi thăm hỏi, lãnh đạo EVNGENCO1 đã trực tiếp trao những phần quà Tết ý nghĩa, gửi lời chúc mừng năm mới sức khỏe, hạnh phúc và an khang tới tập thể người lao động Công ty; đồng thời ghi nhận, biểu dương tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực vượt khó của đội ngũ CBCNV trong việc duy trì sản xuất điện an toàn, ổn định, liên tục, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm cuối năm và dịp Tết Nguyên đán.


Đoàn công tác EVNGENCO1 thăm hỏi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí.

 Lãnh đạo Tổng công ty đề nghị Công ty tiếp tục rà soát, củng cố các thiết bị vận hành nhằm bảo đảm tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 22; tập trung sửa chữa nâng cao hiệu quả hệ thống khử lưu huỳnh (FGD) và hệ thống khử bụi tĩnh điện (ESP) của tổ máy 330MW. Đồng thời, Công ty cần bảo đảm hai tổ máy vận hành an toàn, ổn định trong các tháng mùa khô, với dải công suất hợp lý, đáp ứng đầy đủ các thông số môi trường. Lãnh đạo Tổng công ty bày tỏ mong muốn tập thể cán bộ, người lao động Công ty tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, chủ động, kỷ luật và sáng tạo; thực hiện tốt công tác vận hành an toàn, bảo đảm cung ứng điện ổn định, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của EVNGENCO1 trong năm mới.


Ông Nguyễn Tiến Khoa, Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNGENCO1 mong muốn tập thể cán bộ, người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí đoàn kết, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh trong năm 2026.

Hoạt động thăm, tặng quà Tết của lãnh đạo và Công đoàn EVNGENCO1 là việc làm thường niên, thể hiện sự quan tâm sâu sắc, nghĩa tình của lãnh đạo Tổng công ty đối với người lao động; qua đó kịp thời động viên tinh thần, tạo động lực để CBCNV Công ty Nhiệt điện Uông Bí yên tâm công tác, gắn bó và cống hiến, đón Tết đầm ấm, an vui, sẵn sàng bước vào năm mới với khí thế thi đua sôi nổi.

 

Đảng ủy Công ty Nhiệt điện Uông Bí yêu cầu các Chi bộ trực thuộc, Công đoàn Công ty, Đoàn Thanh niên Công ty tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản bằng hình thức phù hợp và trong đợt sinh hoạt thường kỳ gần nhất. Chỉ đạo bộ phận thực hiện nhiệm vụ công tác Đảng của Đảng bộ, bộ phận truyền thông của Công ty căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao để chủ động tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung các văn bản nêu trên, đảm bảo hiệu quả.

Chi tiết các văn bản: 

1. Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước tại đây.

2. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam tại đây.

3. Kết luận số 222-KL/TW, ngày 02/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 26-CT/TW, ngày 10/9/2013 của Bộ Chính trị về “Công tác của Tạp chí Cộng sản trong giai đoạn mới” tại đây.

4. Kết luận số 223-KL/TW, ngày 02/12/2025 của Bộ Chính trị về Đề án nghiên cứu thành lập Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế tại đây.

5. Kết luận số 229-KL/TW, ngày 05/01/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về thực hiện một số nội dung, nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong thời gian tới tại đây.

6. Kết luận số 230-KL/TW, ngày 05/01/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp, tinh gọn các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và Đề án đánh giá mô hình hoạt động của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại đây.

7. Kết luận số 231-KL/TW, ngày 08/01/2026 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030” tại đây.

8. Kết luận số 232-KL/TW, ngày 08/01/2026 của Ban Bí thư về xử lý các trường hợp sai phạm còn tồn tại trong công tác cán bộ tại đây.

9. Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 10/01/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới tại đây.

10. Quy chế số 09-QC/TW, ngày 05/01/2026 của Ban Bí thư về quản lý và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tại đây.

11. Quy định số 393-QĐ/TW, ngày 05/01/2026 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố tại đây.

12. Quy định số 396-QĐ/TW, ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn tại đây.

13. Quy định số 399-QĐ/TW, ngày 09/01/2026 của Ban Bí thư về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng tại đây.

14. Quyết định số 15-QĐ/BCĐ, ngày 28/12/2025 của Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng về việc phê duyệt Chiến lược dữ liệu trong các cơ quan đảng đến năm 2030 tại đây.

15. Quyết định số 16-QĐ/BCĐ, ngày 28/12/2025 của Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng về việc phê duyệt Kiến trúc dữ liệu phiên bản 1.0 trong các cơ quan đảng tại đây.

16. Thông báo số 478-TB/VPTW, ngày 02/01/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc phân công công tác của các đồng chí lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng tại đây.

17. Thông báo số 491-TB/VPTW, ngày 13/01/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận làm việc của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội tại đây.

18. Công văn số 20120-CV/VPTW, ngày 14/01/2026 về phản ánh, kiến nghị đối với các sản phẩm của Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan đảng tại đây.

19. Thông báo số 54-TB/TGV, ngày 08/12/2025 của Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về kết luận cuộc họp của Lãnh đạo Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với Thường trực Tổ Giúp việc và các cơ quan có liên quan về rà soát tổng thể các nhiệm vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phục vụ Hội nghị tổng kết năm 2025 tại đây.

20. Thông báo số 05-TB/CQTTBCĐ, ngày 05/01/2026 của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng về kết luận của Ban Chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan đảng tại đây.

Chương trình “Chợ Tết Công đoàn” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được tổ chức trên phạm vi toàn quốc, diễn ra từ ngày 09/01/2026 đến ngày 04/3/2026, với hình thức mua sắm trực tuyến trên trang thông tin điện tử chính thức của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thông qua phiếu mua hàng (voucher), đoàn viên công đoàn được hỗ trợ mua các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt dịp Tết.

Theo phân bổ của Công đoàn Tổng công ty Phát điện 1, Công đoàn Công ty Nhiệt điện Uông Bí có 07 đoàn viên, CNVLĐ có hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo được tham gia Chương trình, với mức hỗ trợ 500.000 đồng/người; việc rà soát, lựa chọn đối tượng và hỗ trợ đoàn viên mua sắm trực tuyến được triển khai kịp thời, hiệu quả. Đến nay, Công đoàn Công ty đã hoàn thành việc triển khai Chương trình, các đoàn viên, CNVLĐ được hỗ trợ đã nhận đầy đủ hàng hóa theo quy định.


Đồng chí Nguyễn Huy Hữu, đoàn viên Công đoàn Phòng Kỹ thuật và An toàn nhận hàng từ Chương trình “Chợ Tết Công đoàn”

Tham gia Chương trình, các CNVLĐ đều bày tỏ niềm vui, sự phấn khởi và xúc động trước sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và tổ chức Công đoàn. Đoàn viên Nguyễn Huy Hữu bày tỏ: “Chúng tôi rất vui và biết ơn sự quan tâm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, của Công đoàn Tổng công ty và Công đoàn Công ty. Đây là nguồn động viên tinh thần ý nghĩa, giúp chúng tôi thêm ấm lòng khi Tết đến, Xuân về.”


Đồng chí Lê Thị Quế Phương, đoàn viên Công đoàn Phòng Hành chính và Lao động cùng hàng mua sắm từ Chương trình “Chợ Tết Công đoàn”

Chương trình “Chợ Tết Công đoàn” tiếp tục khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, công nhân viên lao động, góp phần để người lao động yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với Công ty.

 

Đảng ủy Công ty Nhiệt điện Uông Bí yêu cầu các Chi bộ trực thuộc, Công đoàn Công ty, Đoàn Thanh niên Công ty tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 55-CT/TW, chủ động tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Chỉ thị trên, bảo đảm hiệu quả.

Chi tiết Chỉ thị xem tại đây

Đảng ủy EVNGENCO1 cấp ủy các tổ chức đảng trực thuộc, Ban Chấp hành Công đoàn Tổng công ty, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Tổng công ty tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản bằng hình thức phù hợp và trong đợt sinh hoạt thường kỳ gần nhất. Chỉ đạo đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội của đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao để chủ động tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung các văn bản trên, bảo đảm hiệu quả.

Chi tiết các văn bản: 

1. Kết luận số 228-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp (kèm theo bản sao Báo cáo số 613-BC/TW ngày 29/12/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về tiến độ, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp tháng 12/2025)  tại đây. 

2. Kế hoạch số 173-KH/BTGDVTW ngày 16/12/2025 về xây dựng Đề án chiến lược công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số tại đây. 

3. Hướng dẫn số 41-HD/BTGDVTW ngày 19/12/2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về công tác khoa giáo năm 2026 tại đây. 

4. Hướng dẫn số 42-HD/BTGDVTW ngày 22/12/2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về việc tuyên truyền thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị và Kết luận số 213-KL/TW của Ban Bí thư (kèm theo Công văn số 241-CV/ĐU ngày 26/12/2025 của Đảng ủy Chính phủ) tại đây. 

5. Công văn số 19871-CV/VPTW ngày 02/01/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc tuyên truyền triển lãm “Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ Đại hội đến Đại hội” (gửi kèm Công văn số 94-CV/BTGDV ngày 06/01/2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Chính phủ) tại đây. 

6. Hướng dẫn số 43-HD/BTGDVTW ngày 24/12/2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về công tác văn hóa, văn nghệ năm 2026 tại đây. 

7. Hướng dẫn số 45-HD/BTGDVTW ngày 31/12/2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng trong năm 2026 tại đây. 

 


Ông Phạm Lê Phú, Phó Tổng giám đốc EVN chủ trì buổi làm việc

Ngày 16/01/2026, Đoàn công tác Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) do ông Phạm Lê Phú - Phó Tổng giám đốc EVN làm trưởng đoàn; cùng ông Đinh Thế Phúc - TVHĐTV EVN; ông Võ Mạnh Hà - Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) và đại diện các Ban chuyên môn của EVN, EVNGENCO1 đã có buổi làm việc với Công ty Nhiệt điện Uông Bí về công tác vận hành và chuẩn bị sản xuất điện năm 2026.

Về phía Công ty Nhiệt điện Uông Bí có Ban Giám đốc, lãnh đạo các đơn vị tham dự buổi làm việc.

Tại buổi làm việc, Công ty Nhiệt điện Uông Bí đã báo cáo kết quả vận hành năm 2025 và các giải pháp triển khai nhằm hoàn thành kế hoạch sản xuất điện năm 2026 theo phương thức vận hành được phê duyệt. Theo kế hoạch, sản lượng điện năm 2026 giao cho Công ty là 4.222 triệu kWh, đòi hỏi đơn vị phải bảo đảm độ tin cậy của tổ máy, duy trì thông số vận hành ổn định, không để xảy ra sự cố chủ quan và giảm thiểu thời gian ngừng sửa chữa.


Ông Đỗ Trung Kiên, Giám đốc Công ty báo cáo kết quả sản xuất điện năm 2025 và các giải pháp triển khai kế hoạch, nhiệm vụ năm 2026 tại buổi làm việc

Bên cạnh việc tuân thủ quy trình vận hành, các phân xưởng vận hành và sửa chữa tiếp tục tăng cường công tác bảo dưỡng định kỳ, rà soát khiếm khuyết, tối ưu hiệu chỉnh lò hơi, turbine và hệ thống chế biến than, cải thiện các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu suất tổ máy và đảm bảo khả năng đáp ứng phụ tải trong cao điểm mùa khô năm 2026.

Để chủ động cho vận hành năm 2026, Công ty đã triển khai công tác chuẩn bị nhiên liệu và vật tư thiết bị dự phòng phục vụ sửa chữa, thực hiện ký kết hợp đồng cung cấp than với TKV đảm bảo tồn kho trong mùa khô, đồng thời chuẩn bị dầu DO, đá vôi, hóa chất, bi thép theo kế hoạch sản xuất.

Công tác sửa chữa bảo dưỡng, bảo dưỡng định kỳ (BDĐK), sửa chữa thường xuyên (SCTX) và tiểu tu các tổ máy 300MW, 330MW được xây dựng theo lộ trình phù hợp để vừa đáp ứng phương thức hệ thống điện, vừa đảm bảo trạng thái kỹ thuật tốt của tổ máy theo tiêu chí an toàn – tin cậy – ổn định.

Tại buổi làm việc, Công ty cũng báo cáo tình hình triển khai các nội dung theo QCVN 19:2024/BTNMT và các chỉ đạo của EVN về nâng cấp hệ thống xử lý khí thải tại các nhà máy nhiệt điện than. Trên cơ sở chỉ đạo của EVN và hướng dẫn của EVNGENCO1, Công ty từng bước hoàn thiện các hạng mục cải tạo hệ thống khử bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống khử lưu huỳnh (FGD), tăng cường quan trắc môi trường tự động, vận hành đồng bộ hệ thống xử lý nước thải, bảo đảm đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn môi trường.


 Đoàn công tác kiểm tra tình hình sản xuất tại nhà điều khiển trung tâm Tổ máy 300MW Công ty Nhiệt điện Uông Bí

Kết luận buổi làm việc, Phó Tổng giám đốc EVN Phạm Lê Phú ghi nhận nỗ lực của Công ty Nhiệt điện Uông Bí trong việc duy trì sản xuất điện an toàn, ổn định trong năm 2025. Lãnh đạo EVN đề nghị Công ty tiếp tục tập trung công tác vận hành, tuyệt đối không để xảy ra sự cố chủ quan; đồng thời xây dựng và triển khai phương án sửa chữa, củng cố, nâng cấp thiết bị nhằm bảo đảm thiết bị vận hành liên tục, tin cậy. Công ty cần nghiên cứu điều chỉnh dải công suất tối đa nhưng vẫn bảo đảm các thông số môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nội bộ để bảo đảm việc thực hiện đúng quy trình, quy định.

Phó Tổng giám đốc EVN cũng yêu cầu Công ty đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý và sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động; kiểm soát chặt chẽ khối lượng và chất lượng than; xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thực hiện nghiêm công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường; chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2026.


Đoàn công tác kiểm tra tình hình sản xuất tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí

Đoàn công tác cũng đề nghị EVNGENCO1 tiếp tục hỗ trợ Công ty Nhiệt điện Uông Bí, tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các thủ tục liên quan đến dự án nâng cấp hệ thống xử lý khí thải nhằm đáp ứng yêu cầu quy chuẩn mới trong giai đoạn 2025–2029.

Buổi làm việc kết thúc trong tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cùng hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của nhân dân.

Tham dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Nguyễn Mạnh Huấn, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Phát điện 1(EVNGENCO1); đồng chí Võ Mạnh Hà, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty; đồng chí Trần Doãn Thành, Chủ tịch Công đoàn Tổng công ty cùng đại diện các Ban chuyên môn của Tổng công ty. Về phía Công ty Nhiệt điện Uông Bí có các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban giám đốc, Trưởng các Tổ chức đoàn thể, Bí thư các Chi bộ, Trưởng, Phó các đơn vị, các đồng chí UVBCH Công đoàn Công ty và các đại biểu tiêu biểu đại diện cho các đơn vị trong Công ty.


Đ/c Đỗ Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty trình bày báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng, chuyên môn năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026

Theo báo cáo tại Hội nghị, năm 2025, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty diễn ra trong bối cảnh phụ tải hệ thống điện tăng trưởng thấp hơn dự báo; thị trường điện nhiều biến động; các tổ máy nhiệt điện phải vận hành linh hoạt để bù đắp biến động từ nguồn thủy điện và năng lượng tái tạo; công tác cung ứng nhiên liệu chịu áp lực từ nhu cầu thị trường và yếu tố thời tiết. Mặc dù đối diện nhiều khó khăn, Công ty Nhiệt điện Uông Bí luôn bám sát chỉ đạo của EVNGENCO1 và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã giữ vững an toàn vận hành các Tổ máy, đảm bảo sản lượng phát điện theo phương thức huy động và hoàn thành các mục tiêu chính, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ đảm bảo cung ứng điện của EVNGENCO1 và EVN.

Công tác xây dựng Đảng được triển khai nghiêm túc, hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu theo Nghị quyết; tổ chức thành công Đại hội các Chi bộ và Đại hội Đảng bộ Công ty nhiệm kỳ 2025–2030; công tác phát triển đảng viên vượt kế hoạch; công tác kiểm tra, giám sát, dân vận và lãnh đạo đoàn thể có nhiều chuyển biến tích cực. Các kết quả này không chỉ thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, mà còn góp phần đảm bảo tính thống nhất trong lãnh đạo và tính hiệu quả trong điều hành, từ công tác chuyên môn, tài chính đến tổ chức sản xuất và chăm lo người lao động. Phát huy vai trò nêu gương, Ban Chấp hành Đảng bộ đã tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm phù hợp với đặc thù nhà máy nhiệt điện, gắn kết giữa xây dựng Đảng với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và quản trị.

Về nhiệm vụ chuyên môn, sản lượng điện sản xuất đạt 3.568 triệu kWh; Công ty hoàn thành kế hoạch sửa chữa lớn, tiểu tu hai Tổ máy; đảm bảo cung ứng nhiên liệu than cho phát điện; các chỉ tiêu tài chính cơ bản hoàn thành.

Trong năm, Công ty cũng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số theo định hướng của EVN và EVNGENCO1 thông qua việc số hóa dữ liệu vận hành, quản lý sửa chữa bảo trì thiết bị, sử dụng quy trình điện tử và chữ ký số trong điều hành; triển khai các nền tảng phục vụ cung cấp thông tin nội bộ và quản trị nhân sự; ứng dụng giám sát số trong công tác nhiên liệu và môi trường. Chuyển đổi số bước đầu mang lại hiệu quả trong tối ưu thời gian xử lý, nâng cao năng suất lao động, tăng tính minh bạch dữ liệu.

Song song với nhiệm vụ sản xuất, Công ty duy trì tốt công tác bảo vệ môi trường, tro xỉ được tiêu thụ 100% theo quy định, hệ thống quan trắc môi trường vận hành ổn định; công tác an toàn vệ sinh lao động được chú trọng, góp phần bảo đảm sản xuất an toàn, bền vững. Các hoạt động an sinh xã hội và phong trào đoàn thể được quan tâm thực hiện thiết thực, chăm lo đời sống người lao động, lan tỏa hình ảnh doanh nghiệp ngành Điện có trách nhiệm với cộng đồng.

Bước sang năm 2026, Công ty đặt mục tiêu đảm bảo vận hành an toàn, tin cậy và hiệu quả các Tổ máy, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh; tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng; đẩy mạnh chuyển đổi số, cải tiến kỹ thuật, tối ưu hóa quản trị chi phí, sắp xếp tinh gọn bộ máy; phấn đấu hoàn thành sản lượng điện 4,222 tỷ kWh và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật theo kế hoạch được giao.

Tại Hội nghị, các đại biểu tham luận về công tác xây dựng đảng; các giải pháp đảm bảo các thiết bị vận hành an toàn, tin cậy; giải pháp giảm suất hao nhiệt nâng cao hiệu quả vận hành các Tổ máy.


Đ/c Võ Mạnh Hà, Phó Tổng giám đốc EVNGENCO1 phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Võ Mạnh Hà, Phó Tổng giám đốc EVNGENCO1, ghi nhận và biểu dương những kết quả đạt được của Công ty trong năm 2025, đặc biệt là việc không để xảy ra tai nạn lao động, đây là điểm sáng cần tiếp tục phát huy. Đồng chí đề nghị Công ty tiếp tục chuẩn hóa cơ sở dữ liệu, nâng cao công tác quản trị dữ liệu phục vụ vận hành và bảo dưỡng sửa chữa thiết bị; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, giảm suất hao nhiệt và nâng cao hiệu quả tổ máy; công tác đấu thầu phải triển khai đúng tiến độ phục vụ sửa chữa tổ máy; đồng thời bảo đảm vận hành an toàn gắn với tuân thủ yêu cầu bảo vệ môi trường, chú trọng củng cố hệ thống xử lý khí, khói thải. Phó Tổng giám đốc cũng nhấn mạnh việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp theo phương châm “lợi ích hài hòa – rủi ro chia sẻ”, mỗi CBCNV cần phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết và chủ động trong thực hiện nhiệm vụ.

Thay mặt lãnh đạo Công ty, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đỗ Trung Kiên cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty Phát điện 1 và nhấn mạnh: phát huy những kết quả đạt được, tập thể cán bộ, đảng viên và người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới sáng tạo, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026, góp phần xây dựng Công ty phát triển ổn định và bền vững.


Đ/c Nguyễn Thị Thu Hương, Chủ tịch Công đoàn Công ty trình bày báo cáo kết quả Hội nghị người lao động tại các đơn vị, tổng hợp các kiến nghị, đề xuất của Người lao động

Tiếp đó, Hội nghị đại biểu người lao động năm 2026 được tổ chức theo quy định. Hội nghị nghe báo cáo kết quả Hội nghị người lao động tại các đơn vị cơ sở; báo cáo thẩm tra tư cách đại biểu; báo cáo hoạt động của Ban thanh tra nhân dân; báo cáo việc trích lập, sử dụng các quỹ khen thưởng, phúc lợi; việc thực hiện các chế độ BHXH, BHYT, BHTN và các quyền lợi của người lao động.

Các kiến nghị của người lao động được trao đổi dân chủ, thẳng thắn và được Công ty giải đáp trực tiếp. Công đoàn Công ty tiếp tục phối hợp chăm lo đời sống người lao động, duy trì phong trào thi đua, an sinh xã hội và xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Hội nghị phát động phong trào thi đua phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2026.

Hội nghị thông qua Nghị quyết 2026, 100% đại biểu tham gia Hội nghị thống nhất mục tiêu đã nêu.

Công ty công bố quyết định khen thưởng các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2025. Hội nghị bế mạc trong tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ năm 2026.


Đ/c Đỗ Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty trao Giấy khen của Đảng bộ Công ty cho 02 Chi bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2025


Đ/c Nguyễn Mạnh Huấn,Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Phát điện 1 trao Giấy khen của EVN cho 02 Tập thể và 09 cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2025


Đ/c
Võ Mạnh Hà, Phó Tổng giám đốc EVNGENCO1 trao Giấy khen của Tổng công ty cho 07 tập thể và 35 cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2025


Đ/c Đỗ Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty trao quyết định bổ nhiệm cho đồng chí Nguyễn Vũ Hải

Phát biểu chúc mừng và giao nhiệm vụ, đồng chí Đỗ Trung Kiên ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng của các đồng chí Nguyễn Vũ Hải và Nguyễn Xuân Quang trong thời gian qua; đồng thời bày tỏ sự tin tưởng rằng, trên cương vị công tác mới, các đồng chí sẽ tiếp tục phát huy trí tuệ, năng lực, sở trường, nâng cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết cùng tập thể lãnh đạo và người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.


Đ/c Đỗ Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty trao quyết định bổ nhiệm cho đồng chí Nguyễn Xuân Quang

Phát biểu nhận nhiệm vụ, các đồng chí được bổ nhiệm trân trọng cảm ơn sự quan tâm, tin tưởng của Ban Lãnh đạo Công ty; đồng thời cam kết tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chức trách, quyền hạn theo quy định, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị mới.


Ban lãnh đạo Công ty và các đồng chí được bổ nhiệm chụp ảnh lưu niệm


Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên Công ty Nhiệt điện Uông Bí dâng hương tại nghĩa trang Phường Uông Bí, Quảng Ninh

Tại buổi lễ, trước anh linh các anh hùng liệt sỹ, đoàn đã thành kính dâng hương, dâng hoa tưởng nhớ, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với công lao to lớn của các anh hùng liệt sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đồng chí Trương Hồng Đức, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Công ty Nhiệt điện Uông Bí khẳng định: “máu xương của các anh hùng liệt sỹ đã hòa vào từng tấc đất quê hương, trở thành nền móng cho sự sống và tương lai của các thế hệ mai sau. Trước phần mộ các anh, những người đang sống xin nghiêng mình tưởng niệm, khắc ghi công lao to lớn ấy trong tim”.


Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên Công ty Nhiệt điện Uông Bí dọn vệ sinh tại nghĩa trang Phường Uông Bí, Quảng Ninh

Những việc làm thiết thực như dâng hương, dâng hoa, vệ sinh, chỉnh trang nghĩa trang tuy giản dị nhưng thể hiện tấm lòng tri ân chân thành, lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” – một giá trị nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là dịp để cán bộ, đoàn viên, hội viên Công ty Nhiệt điện Uông Bí bồi đắp lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.

Trước anh linh các anh hùng liệt sỹ, tập thể cán bộ, người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí nguyện tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, giữ vững phẩm chất tốt đẹp, sống có trách nhiệm, góp sức xây dựng quê hương Uông Bí ngày càng phát triển, xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước.

Sau lễ tưởng niệm và phút mặc niệm, đoàn đã tiến hành dọn dẹp, thắp hương tại các phần mộ trong nghĩa trang, thể hiện sự tri ân bằng những hành động cụ thể, giàu ý nghĩa nhân văn và lan tỏa tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng.


Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hương – Chủ tịch Công đoàn Công ty ( thứ 5 từ phải qua) đến động viên CBCNV Công ty Nhiệt điện Uông Bí tại buổi hiến máu nhân đạo

Với thông điệp Vạn trái tim – Một tấm lòng”, Công ty Nhiệt điện Uông Bí không chỉ tích cực hưởng ứng mà còn tiếp tục góp phần làm nên dòng chảy nhân ái của ngành Điện – dòng chảy được nuôi dưỡng từ tinh thần sẻ chia của người thợ điện Nhiệt điện Uông Bí, lặng lẽ lan tỏa qua thời gian và sẽ còn nối tiếp trong tương lai.


Công nhân các đơn vị Công ty Nhiệt điện Uông Bí tham gia hiến máu

Trong đợt này, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển đã tiếp nhận 120 đơn vị máu; toàn bộ số máu đã được chuyển về ngân hàng máu của Bệnh viện để phục vụ công tác cấp cứu và điều trị.

Với Công ty Nhiệt điện Uông Bí, Tuần lễ hồng không chỉ là hoạt động thường niên mà còn là minh chứng cho văn hóa trách nhiệm của đội ngũ CBCNV. Mỗi giọt máu trao đi là một thông điệp chia sẻ, khẳng định hình ảnh người lao động Công ty Nhiệt điện Uông Bí tận tâm, kỷ luật và giàu lòng nhân ái.


CBCNV Công ty Nhiệt điện Uông Bí tham gia hiến máu chụp ảnh lưu niệm

Phát huy tinh thần đó, Công ty Nhiệt điện Uông Bí sẽ tiếp tục duy trì và lan tỏa các hoạt động thiện nguyện, đóng góp vào thành công chung của EVN và EVNGENCO1, đồng thời tiếp tục viết nên hành trình lan tỏa sự tử tế – một dòng chảy bền bỉ, vươn xa cùng thời gian.